Chương 1: Những vấn dé lý luận chung về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án. - Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh tế tại Toà án. - _ Chương 3: Định hướng đổi mới và ¬nàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế bang con đường tòa án. CHƯƠNG | NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ BẰNG TOÀ ÁN 1.
ĐẶC DIEM CUA PHÁP LUẬT KINH TẾ - THƯƠNG MAI VA VAI TRO CUA PHAP LUAT TO TUNG KINH TE. Đặc điểm của pháp luật kinh tế - thương mai Nếu hiểu theo cách chung nhất thì luật kinh tế là tổng thể các quy phạm pháp luật mà với các quy phạm đó, Nhà nước tác động vào các tác nhân tham gia đời sống kinh tế và các quy phạm liên quan đến mối tương quan giữa sự tự do của từng cá nhân và sự điều chỉnh của Nhà nước. Nếu hiểu theo cách đó thì luật kinh tế tồn tại cả ở pháp luật công và pháp luật tư; Nó điều chỉnh một mặt khả năng và cách thức của sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống kinh tế, bảo vệ lợi ích công và mặt khác nó thể hiện nguyên tắc bình đẳng và bảo vệ Joi ích tụ của các thành viên tham gia thương trường !?#?6?”Ì_ Như vậy, khái niệm luật kinh tế là một khái niệm vô cùng rộng lớn mà ở đó, người ta có thể thấy nhiều chế định pháp luật với những phương pháp điều chỉnh không giống nhau. Nhiều nhà khoa học pháp lý thuộc trường phái Civil Law phân chia luật kinh tế thành “luật kinh tế công” hay “luật hành chính kinh tế” và “luật kinh tế tư”.
Nếu từ phương diện tài phán thì luật kinh tế công sẽ là mảng pháp luật nội dung để hình thành tài phán hành chính. Đó là những lĩnh vực pháp luật liên quan đến hoạt động của công quyền can thiệp vào đời sống kinh tế mà khi có yêu cầu tài phán thì đó là những tài phán liên quan đến những lĩnh vực quản lý kinh tế của Nhà nước (công quyền) như: Điều tiết thị trường, cạnh tranh; Các quyết định liên quan đến cấp phép kinh doanh, xây dựng; Các quyết định về thuế. Vì thực ra, đây đều là những quá trình mà ở đó đều có ban hành các quyêt định hay văn bản hành chính. Trong khi đó, “luật kinn tế tư” sẽ là mang pháp luật bao gỏm nhiều lĩnh vực pháp luật của đời sống kinh tế, bao gồm: pháp luật dan sự (áp dung cho Kinh tế), pháp luật thương mại, pháp luật công ty (doanh nghiệp), pháp luật cạnh tranh.
Như vậy, từ cách nhìn của tài phán thi pháp luật kinh tế (mà trong luận án này được hiểu theo “luật kinh tế tư”) thì pháp luật kinh tế và pháp luật thương mại là những lĩnh vực pháp luật “cùng loại”. Là khu vực pháp luật được điều chỉnh và nhìn nhận theo những nguyên tác của pháp luật tư và những nguyên tắc đặc thù áp dụng trong đời sống kinh tế nên luật kinh tế - thương mại có những đặc điểm phổ biến và cá biệt như Sau: Thứ nhất: Day là lĩnh vực pháp luật được điều chỉnh theo nguyên tac mà theo đó “các chủ thể được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm”. Nguyên tắc này cho phép các chủ thể pháp luật được tự do sáng tạo và hành động trong những điều kiện pháp lý chung và tự do thoả thuận để hình thành và thực hiện các lợi ích của mình khi chúng không xâm hại các lợi ích khác được pháp luật công khai bảo vệ. Theo nguyên tac này, mọi sự giới hạn quyền tu do xử xu của các chủ thể, được hình thành từ phía Nhà nước, đều chỉ có thể thực hiện nếu có căn cứ pháp lý cụ thể được ghi nhận trong luật theo các nguyên tắc chung về Nhà nước pháp quyền.
Cũng theo nguyên tac này, tính chất của các quy phạm pháp luật thuộc khu vực pháp luật này chủ yếu là tính chất tuỳ nghi hay có người gọi là “pháp luật tự hành”. Từ đó còn có thể thấy rằng: - Chủ thể các quan hệ pháp luật có thể có những sự lựa chọn khác nhau cho hành vi của mình trên cơ sở các quy phạm mang tính tuỳ nghi. - Chủ thể các quan hệ pháp luật có thể có những hành vi mà pháp luật không du liệu nhưng vẫn không thể coi là trái pháp luật. Thứ hai: Đây là lĩnh vực pháp luật có những nguyên tắc phái sinh, bắt nguồn và mang cả tính đặc thù so với các nguyên tắc dân sự.
Pháp luật thương mại là luật riêng so với pháp luật dân sự, theo hai nghĩa: các quy định của pháp luật thương mại có thể bổ sung hoặc cụ thé hoá các quy định của pháp luật dan sựÉ*#?31, Bat nguồn từ những nguyên tắc dân sự, pháp luật kinh tế thương mại luôn mang trong mình những nguyên tắc cơ bản nhất của pháp luật dân sự truyền thống. Đó là các nguyên tắc tự do ý chí, tự do thoả thuận; nguyên tắc về tự do khế ước; nguyên tắc tin tưởng và trung thực; nguyên tắc tôn trọng đạo đức xã hội và hợp tác cùng có lợi; nguyên tác đề cao quyền tự định đoạt của các chủ thể pháp luật. Bên cạnh đó, với tính cách là một lĩnh vực pháp luật tư đặc thù, luật kinh tế - thương mại cũng cé những đặc tính để ít nhiều phân biệt được với pháp luật dân sự truyền thống. Trước hết, luật kinh tế - thương mại được coi là “pháp luật của các thương gia hay doanh nghiệp”.
Điều này được lý giải từ nguồn gốc của luật thương mại và tính chất của các giao lưu thương mại khi: Các thương gia tạo thành một giai tầng xã hội riêng và có nhu cầu thể hiện riêng trước xã hội, Nhà nước và pháp luật. - Các thương gia có “luật chơi” riêng của mình và những quy tắc xử xự đó cần được pháp luật thừa nhận và trở thành pháp luật. - Thương trường là một thực thể hết sức sống động và linh hoạt nên các thang giá trị của thương trường đôi khi không chỉ được đo bằng pháp luật mà phải cần đến cả các thói quen, thông lệ riêng có của đời sống kinh tế, thương mại. Từ đó, thông lệ thương mại mặc nhiên được coi là nguồn bổ xung của pháp luật kinh tế - thương mại.
- Cũng từ tính năng động của các quan hệ thương mại, từ lợi ích hợp pháp của các thương gia, xã hội và người tiêu dùng, điều cần thiết đặt ra là, các công cụ pháp lý để điều chỉnh các hành vi thương mại phải đáp ứng được các nhu cầu ngày càng cao về tính năng động, nhanh nhạy, đơn giản và an toàn về pháp lý của các giao dịch thương mại. Một đặc điểm tiếp theo của pháp luật kinh tế thương mai so với dân luật truyền thống là sự mở rộng quyền tự do cá nhân trong các giao lưu thương mại. Lịch sử phát triển của pháp luật thương mai của n: `âu nước trên thế giới cho thấy, ngay nguyên tắc về tự do khế ước (xuất phát từ dân luật cổ điển), khi ấp dụng cho các thương gia cũng dược mở rộng. Những vấn đề về tự do thoả thuận, tự do thiết lập hình thức hợp đồng.
đều được pháp luật thương mại “phóng khoáng” hon so với pháp luật dan sự. Trong khi pháp luật dan sự còn đang kiên trì những chế định truyền thống về năng lực pháp lý và năng lực hành 10 vị thì pháp luật thương mại (trừ Việt nam) thừa nhận luôn cả thương gia thực tế và mọi hành vi của họ vì mục đích thương mại nói chung đều được thừa nhận là hành vị thương mại và được hưởng những “ưu đãi” của pháp luật thương mại. Bởi lẽ chúng tôi cho rằng, pháp luật thương mại tạo cho các chủ thể một mức độ cao hon của quyền tự định đoạt va cũng đồng thời [a trách nhiệm và mức rủi ro cao hơn so với pháp luật dân sự. Trong khi pháp luật dân sự và tố tụng dân sự còn chỉ biết đến toà án là cán cân công lý và được xác định thẩm quyền xét xử theo nguyên tắc chỗ ở của bị đơn thì pháp luật thương mại biết đến nhiều hình thức tài phán khác nhau và nhiều cơ quan tài phán khác nhau mà về nguyên tắc, các thương gia có thể lựa chọn.
Thêm vào đó, bản thân giới thương gia cũng tham gia vào các hoạt động tài phán. Theo thông lệ, khác với ở phiên toà dân sự, tại toà kinh tế - thương mại, các hội thẩm nhất định phải là thương gia - những người đại diện và am hiểu về một nghề cũng danh giá và chuyên nghiệp không kém phần nghề công chức của thẩm phán và giúp thẩm phán hiểu được những sâu thẳm của nghề kinh doanh? trố| = 1. Vai trò của pháp luật tố tung kinh tê Trong lý luận về Nhà nước và pháp luật, người ta biết đến cặp phạm trù về pháp luật nội dung và pháp luật hình thức, hay còn gọi là pháp luật tố tụng. Nếu theo tư duy triết học về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì ¢hac) là pháp luật nội dung phải quyết định pháp luật hình thức.
Điều đó cũng không sai và ít nhất là trong trường hợp khi xem xét về mối quan hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật hình thức theo truyền thống pháp luật Civil Law mà Việt nam, theo chúng tôi, là mệt quốc gia có hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng nhiều của tư tưởng pháp luật Civil Law. Pháp luật hình thức, hay pháp luật tố tụng, trước hết là loại pháp luật mang tính thủ tục nhưng cũng không chỉ là mang tính kỹ thuật, như đã có quan niệm. Thực ra, pháp luật tố tụng có vai trò rất to lớn trong việc chuyển pháp luật nội dung thành hiện thực, trong việc đảm bảo tính hiệu quả của pháp luật nội dung. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, pháp luật (nội dung) sẽ chỉ là con số không nếu nó không tạo tiền đề và có khả năng để tiến hành tố tụng.
Thông qua các hoạt động tổ tụng theo luật tố tung, các pháp luật nội dung được nhận thức đúng đắn, bị phát hiện những sơ hở và đây cũng chính là tiền đề để phát triển, cải cách và hoàn thiện pháp luật nói chung. Điều này là dễ hiểu bởi lẽ: công tý được khẳng định thông qua các hoạt động tố tụng, hợp pháp, lẽ phải, công bang cũng được đánh giá tại các quá trình này.