Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường tòa án ở Việt Nam" được tác giả Nguyễn Thị Kim Vinh thực hiện tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia vào năm 2002, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Động và TS. Phạm Duy Nghĩa, thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số 5.05.15).

+-----------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN TỔNG QUAN VỀ LUẬN ÁN                                                    |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| Tên đề tài: Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường tòa án         |
|             ở Việt Nam                                                            |
| Tác giả: Nguyễn Thị Kim Vinh                                                      |
| Chuyên ngành: Luật kinh tế (Mã số: 5.05.15)                                       |
| Cơ sở đào tạo: Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật - Trung tâm Khoa học Xã hội  |
|                và Nhân văn Quốc gia                                               |
| Người hướng dẫn khoa học: 1. Nguyễn Văn Động; 2. Phạm Duy Nghĩa                   |
| Năm bảo vệ: 2002 (Hà Nội)                                                         |
+-----------------------------------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Vào tháng 7 năm 1994, cơ chế tài phán kinh tế tại Việt Nam chính thức chuyển đổi từ mô hình phục vụ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Để thực hiện nhiệm vụ đổi mới hệ thống tư pháp theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 4 (ngày 28/12/1993), hệ thống Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân được thành lập và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16/3/1994 (có hiệu lực từ ngày 1/7/1994).

Sau 7 năm áp dụng (1994–2001), thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án đã bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc:

  • Pháp luật nội dung chủ yếu là Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường và thiếu thống nhất với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 cũng như Luật Thương mại năm 1997.
  • Hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành còn thiếu đồng bộ, chậm ban hành, gây ra sự không thống nhất trong quan điểm giải quyết giữa các cấp xét xử.
  • Tình trạng các vụ án kinh tế bị kéo dài qua nhiều cấp giải quyết dẫn đến việc khi bản án có hiệu lực pháp luật thì bên phải thi hành án đã mất khả năng thanh toán, tẩu tán tài sản hoặc tuyên bố phá sản.
  • Tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp đã chỉ rõ những bất cập, sơ hở và thiếu đồng bộ của pháp luật tư pháp cần phải được nghiên cứu, khắc phục kịp thời.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Mặc dù đã có một số công trình tìm hiểu về Tòa kinh tế, nhưng vấn đề pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Tòa án dưới góc độ kết hợp đồng bộ cả pháp luật nội dung và pháp luật hình thức (thủ tục tố tụng) gắn với thực tiễn xét xử vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu cụ thể:

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận về vai trò, vị trí của tài phán Tòa án trong hệ thống tài phán kinh tế; làm rõ khái niệm tranh chấp kinh tế và các nguyên tắc đặc trưng của việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Tòa án.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế tại Tòa án nhân dân.
  3. Phát hiện những vướng mắc, mâu thuẫn, bất cập của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng thông qua các vụ án cụ thể từ thực tiễn xét xử.
  4. Đưa ra các đề xuất, kiến nghị khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử tranh chấp kinh tế của Tòa án tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Tòa án (trọng tâm là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan) và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa kinh tế các cấp.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Hoạt động xét xử tranh chấp kinh tế trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam, có liên hệ, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế tại một số quốc gia.
    • Về thời gian: Tập trung vào giai đoạn từ khi thành lập Tòa kinh tế (tháng 7/1994) đến thời điểm nghiên cứu (năm 2001 - 2002).
    • Về nội dung: Luận án giới hạn phạm vi ở các vấn đề cấp thiết liên quan đến thẩm quyền xét xử và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trước khi Tòa kinh tế ra đời, đầu những năm 1990 đã có các đề tài nghiên cứu của Trọng tài kinh tế Nhà nước và Bộ Tư pháp nhằm tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho cơ chế tài phán mới. Vấn đề này sau đó được đưa vào giáo trình giảng dạy của Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng như trong Dự án VIE/94/003 do Bộ Tư pháp chủ trì.

Tác giả Tên công trình nghiên cứu Năm công bố / Địa điểm
Lê Công Đồng Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế bằng toà án trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 1996, TP. Hồ Chí Minh
Đào Thị Xuân Lan Hoà giải trong giải quyết tranh chấp kinh tế 1997, Hà Nội
Đào Vĩnh Tường Giải quyết tranh chấp bằng toà án 1997, Hà Nội
Nguyễn Tuấn Anh Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án tại TP. Hà Nội 2000, Hà Nội

Tác giả luận án nhận định rằng các công trình nêu trên chủ yếu tập trung vào việc mô tả sự cần thiết của loại hình tài phán mới hoặc đi sâu vào các thủ tục đơn lẻ trong vụ án kinh tế. Vấn đề giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Tòa án dưới góc độ chỉnh thể—kết hợp giữa quy phạm pháp luật nội dung với quy phạm pháp luật hình thức và gắn trực tiếp với các số liệu, vụ án xét xử thực tế—chưa được giải quyết triệt để. Luận án của tác giả Nguyễn Thị Kim Vinh định vị là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tiếp cận từ góc độ kết hợp lý luận pháp lý với kinh nghiệm thực tiễn xét xử của một thẩm phán công tác trực tiếp trong ngành Tòa án.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng các lý thuyết và khái niệm pháp lý nền tảng:

  • Phương pháp luận triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và kiến trúc thượng tầng pháp lý: quan hệ kinh tế quy định bản chất, nội dung của các thiết chế và quy phạm pháp luật.
  • Lý thuyết phân định pháp luật công (Public Law) và pháp luật tư (Private Law) theo truyền thống Civil Law: Luật kinh tế được phân chia thành "luật kinh tế công" (điều tiết thị trường, thuế, cấp phép hành chính) và "luật kinh tế tư" (pháp luật thương mại, công ty, hợp đồng kinh tế).
  • Mối quan hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng (pháp luật hình thức): Pháp luật nội dung giữ vai trò chỉ đạo, xác lập quyền và nghĩa vụ; pháp luật tố tụng là phương tiện hiện thực hóa, bảo đảm tính hiệu lực của pháp luật nội dung trên thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý định tính:

  • Phương pháp phân tích thực tiễn (xã hội học pháp luật): Phân tích các vụ án kinh tế điển hình đã được xét xử trên thực tế để minh chứng cho các bất cập của pháp luật hiện hành và kiểm chứng tính phù hợp của các quy định tố tụng.
  • Phương pháp hệ thống hóa và phân tích quy phạm: Rà soát, đối chiếu các văn bản luật, pháp lệnh, thông tư, công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao.
  • Phương pháp lịch sử: Đánh giá sự hình thành và phát triển của chế định tài phán kinh tế ở Việt Nam từ giai đoạn kế hoạch hóa tập trung đến giai đoạn đổi mới kinh tế thị trường.
  • Phương pháp luật học so sánh: Khảo sát kinh nghiệm tổ chức Tòa kinh tế và thủ tục tố tụng thương mại tại các quốc gia phát triển thuộc hệ thống Civil Law (Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức), hệ thống Common Law (Anh, Mỹ), các nước Châu Á (Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan, Philippines) và các quốc gia chuyển đổi (Trung Quốc, Cộng hòa Séc).

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu

  • Văn bản pháp luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1993; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989; Luật Doanh nghiệp năm 1999; Luật Thương mại năm 1997; Bộ luật Dân sự năm 1995.
  • Văn bản áp dụng và tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao: Thông tư số 11/KHXX ngày 23/9/1996; Thông tư số 04 ngày 26/8/1996; Công văn số 442/KHXX ngày 1/8/1994; Báo cáo sơ kết số 394/VP ngày 11/9/1995.
  • Hồ sơ các vụ án kinh tế cụ thể được xét xử tại Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của luận án gồm phần Lời mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương nội dung chính:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án

Chương 1 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về tài phán kinh tế, phân tích đặc thù của pháp luật kinh tế - thương mại, so sánh các phương thức giải quyết tranh chấp và phân tích thẩm quyền của Tòa án.

1. Đặc điểm của pháp luật kinh tế - thương mại và vai trò của pháp luật tố tụng kinh tế

  • Đặc điểm pháp luật kinh tế - thương mại: Thuộc khu vực luật tư, được chi phối bởi nguyên tắc "chủ thể được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm"; các quy phạm pháp luật mang tính tùy nghi (pháp luật tự hành); mở rộng quyền tự do ý chí và tự do khế ước; tôn trọng tập quán và thông lệ thương mại như một nguồn bổ sung.
  • Vai trò của pháp luật tố tụng kinh tế: Là công cụ chuyển hóa pháp luật nội dung vào đời sống thực tế; tạo khuôn khổ cho việc nhận định đúng đắn các hành vi pháp lý. Tại Việt Nam, cải cách pháp luật tố tụng là khâu then chốt vì thủ tục tố tụng chưa theo kịp những bước tiến của pháp luật nội dung.

2. Khái niệm chung về giải quyết tranh chấp kinh tế và các hình thức giải quyết

Luận án phân tích bốn hình thức giải quyết tranh chấp chủ yếu trong nền kinh tế thị trường:

Hình thức giải quyết Đặc điểm pháp lý cơ bản Ưu điểm chính Hạn chế / Vấn đề tại Việt Nam
Thương lượng Các bên tự đàm phán, không có bên thứ ba; kết quả ghi nhận bằng biên bản thương lượng có giá trị như hợp đồng. Nhanh chóng, giữ bí mật kinh doanh, không tốn kém án phí. Dễ phát sinh tiêu cực giãn nợ, xóa nợ tại các DNNN; tính tự phát cao, phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên.
Hòa giải Có bên thứ ba độc lập làm trung gian hỗ trợ; gồm hòa giải ngoài tố tụng và hòa giải trong tố tụng. Mềm dẻo, duy trì quan hệ đối tác; biên bản hòa giải thành trong tố tụng có hiệu lực cưỡng chế như bản án. Hòa giải ngoài tố tụng chưa được pháp luật quy định cơ chế công nhận bắt buộc; chưa chú trọng hòa giải ở giai đoạn thi hành án.
Trọng tài Tổ chức phi chính phủ (trọng tài vụ việc Ad-hoc hoặc trọng tài thường trực); phán quyết chung thẩm; kết hợp thỏa thuận và tài phán. Tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt; giải quyết kín; trọng tài viên có chuyên môn sâu. Tại Việt Nam các tổ chức trọng tài còn thiếu thốn về cơ sở vật chất và pháp lý, cần sự hỗ trợ ban đầu từ Nhà nước.
Tòa án Cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực công; xét xử công khai theo trình tự nghiêm ngặt; phán quyết có tính cưỡng chế cao. Phán quyết có tính khả thi và cưỡng chế mạnh mẽ; bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Thủ tục tố tụng kéo dài, tốn kém chi phí; nguyên tắc xét xử công khai có thể làm lộ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp.

3. Tranh chấp kinh tế và thẩm quyền của Tòa án theo pháp luật Việt Nam

  • Đặc điểm tranh chấp kinh tế trong kinh tế thị trường: Phát sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh; các chủ thể là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh; giá trị tranh chấp thường rất lớn, ảnh hưởng đến sự tồn tại của doanh nghiệp; các bên có nhu cầu bảo vệ uy tín thương mại.
  • Phân biệt tranh chấp kinh tế và tranh chấp dân sự:
    • Mục đích: Tranh chấp kinh tế nhằm mục đích kinh doanh sinh lời; tranh chấp dân sự nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân.
    • Chủ thể: Chủ thể tranh chấp kinh tế hẹp hơn (pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh); chủ thể tranh chấp dân sự bao gồm mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức xã hội.
    • Giá trị: Tranh chấp kinh tế có giá trị tài sản rất lớn; tranh chấp dân sự thường có giá trị nhỏ hơn.
  • Các loại tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền Tòa án (Điều 12 Pháp lệnh năm 1994):
    • Tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, hoặc giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
    • Tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty, hoặc giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể công ty.
    • Tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
    • Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật (như tranh chấp về thư tín dụng L/C, tranh chấp vận đơn).
  • Thẩm quyền của Tòa án các cấp:
    • Tòa án nhân dân cấp huyện chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tranh chấp hợp đồng kinh tế khi thỏa mãn đồng thời 3 điều kiện: là tranh chấp hợp đồng kinh tế; giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng; không có yếu tố nước ngoài. Luận án chỉ ra rằng mức 50 triệu đồng là quá thấp, không còn phù hợp với thực tiễn thị trường, dẫn đến hầu hết các vụ án kinh tế đều bị dồn lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
    • Thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ vào nơi bị đơn có trụ sở/cư trú hoặc nơi có bất động sản (Điều 14 Pháp lệnh năm 1994).
    • Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn trong một số trường hợp cụ thể (không rõ nơi cư trú bị đơn, tranh chấp phát sinh từ chi nhánh, nơi thực hiện hợp đồng).

4. Các bất cập pháp lý được chỉ ra trong Chương 1

  • Bất cập về chủ thể Doanh nghiệp tư nhân: Theo Điều 2 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 và Pháp lệnh năm 1994, hợp đồng có mục đích kinh doanh giữa hai doanh nghiệp tư nhân với nhau không được coi là hợp đồng kinh tế và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa kinh tế mà phải giải quyết theo thủ tục dân sự. Luận án khẳng định đây là sự phân biệt đối xử bất hợp lý, vi phạm quyền tự do kinh doanh được quy định tại Luật Doanh nghiệp tư nhân và làm chậm quá trình thu hồi vốn của doanh nghiệp.
  • Bất cập đối với chủ thể mở rộng theo Điều 42 Pháp lệnh HĐKT 1989: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Báo cáo sơ kết số 394/VP ngày 11/9/1995 của Tòa án nhân dân tối cao đã loại bỏ người làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ nông dân, ngư dân ra khỏi phạm vi chủ thể tố tụng kinh tế, chuyển sang tố tụng dân sự.

Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh tế tại Toà án

Chương 2 đi sâu vào việc phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật tố tụng kinh tế và thực tế áp dụng tại Tòa kinh tế các cấp:

  • Đánh giá tính đồng bộ giữa các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 với các đạo luật nội dung (Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Thương mại năm 1997, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989).
  • Phân tích các giai đoạn tố tụng: Khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, hòa giải tại Tòa án, phiên tòa sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
  • Chỉ ra các vướng mắc thực tiễn:
    • Việc phân định ranh giới giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự khi một bên là cơ quan hành chính sự nghiệp mua sắm tài sản hoặc khi hợp đồng do chi nhánh ký kết (theo Thông tư số 11/KHXX và Công văn số 442/KHXX).
    • Các tranh chấp nội bộ công ty phát sinh ngày càng nhiều nhưng quy định tố tụng chưa có hướng dẫn chi tiết về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với việc phong tỏa tài sản hoặc đình chỉ quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
    • Thủ tục giải quyết các loại tranh chấp mới như thư tín dụng (L/C), vận đơn còn lúng túng do thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể từ Tòa án nhân dân tối cao.

Chương 3: Định hướng đổi mới và hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường tòa án

Chương 3 đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm đổi mới toàn diện chế định tài phán kinh tế:

  • Quán triệt các định hướng cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.
  • Kiến nghị sửa đổi khái niệm tranh chấp kinh tế theo hướng mở rộng thành tranh chấp thương mại, bao quát toàn bộ các hành vi kinh doanh kiếm lời của thương nhân, không phân biệt thành phần kinh tế.
  • Kiến nghị bãi bỏ hạn mức giá trị 50 triệu đồng và mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Tòa án nhân dân cấp huyện để giảm tải cho Tòa án cấp tỉnh.
  • Hoàn thiện thủ tục hòa giải, công nhận giá trị pháp lý của kết quả hòa giải ngoài tố tụng và cơ chế hòa giải trong giai đoạn thi hành án.
  • Định hướng tích hợp, thống nhất các thủ tục tố tụng vào Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự trên cơ sở giữ lại các quy định đặc thù của hoạt động kinh doanh thương mại.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm rõ khái niệm, bản chất của tranh chấp kinh tế và tài phán Tòa án kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Luận giải mối quan hệ giữa luật kinh tế tư và pháp luật tố tụng kinh tế theo truyền thống Civil Law; chỉ rõ vai trò của pháp luật tố tụng trong việc hiện thực hóa các quyền tự do kinh doanh và tự do khế ước của thương nhân.
  • Phân tích làm rõ các tiêu chí phân định bản chất giữa tranh chấp kinh tế và tranh chấp dân sự dựa trên mục đích kinh doanh kiếm lời và tư cách thương nhân.

Đóng góp về mặt thực tiễn và lập pháp

  • Đánh giá toàn diện thực trạng 7 năm thi hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, chỉ ra những điểm bất cập, mâu thuẫn giữa luật tố tụng và luật nội dung (đặc biệt là Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989).
  • Đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể:
    1. Thừa nhận hợp đồng có mục đích kinh doanh giữa hai doanh nghiệp tư nhân với nhau là hợp đồng kinh tế và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa kinh tế.
    2. Nâng hoặc bãi bỏ hạn mức 50 triệu đồng đối với thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện nhằm tăng cường năng lực xét xử ở cấp cơ sở.
    3. Bổ sung cơ chế pháp lý công nhận và thi hành các kết quả hòa giải thành ngoài tố tụng và cho phép hòa giải trong quá trình thi hành án.
    4. Hướng dẫn thống nhất thẩm quyền thụ lý đối với các tranh chấp thương mại mới phát sinh như thư tín dụng (L/C) và vận đơn hàng hải.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được thực hiện tại thời điểm năm 2002, khi thị trường chứng khoán Việt Nam mới hình thành và các loại hình công ty cổ phần chưa phát triển mạnh, do đó phần phân tích về tranh chấp mua bán cổ phiếu, trái phiếu chủ yếu dừng lại ở góc độ lý thuyết và dự báo mà chưa có nhiều vụ án thực tiễn để kiểm chứng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án gợi mở việc tiếp tục nghiên cứu mô hình tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử không phụ thuộc vào địa giới hành chính, hoàn thiện thủ tục tố tụng trong khuôn khổ Bộ luật Tố tụng dân sự thống nhất và nghiên cứu áp dụng án lệ thương mại để bổ khuyết cho các khoảng trống lập pháp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật: Tham khảo khung lý luận về tài phán kinh tế, lịch sử phát triển của Tòa kinh tế và phương pháp nghiên cứu xã hội học pháp luật dựa trên phân tích án thực tế.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư: Nắm vững các tiêu chí phân định thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo cấp, theo lãnh thổ và các căn cứ xử lý tranh chấp hợp đồng kinh tế, tranh chấp nội bộ công ty.
  • Cơ quan xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn và luận cứ khoa học cho quá trình soạn thảo, ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự và sửa đổi các đạo luật nội dung về kinh tế, thương mại.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án cho rằng quy định giới hạn thẩm quyền 50 triệu đồng của Tòa án cấp huyện là bất hợp lý?

Theo Điều 13 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Tòa án nhân dân cấp huyện chỉ được xét xử tranh chấp hợp đồng kinh tế có giá trị dưới 50 triệu đồng. Thực tiễn xét xử cho thấy hầu hết các tranh chấp kinh doanh đều có giá trị lớn hơn 50 triệu đồng. Quy định này làm triệt tiêu thẩm quyền của Tòa án cấp huyện, khiến hầu như toàn bộ các vụ án kinh tế bị dồn lên Tòa án cấp tỉnh, gây quá tải cho cấp tỉnh và không phát huy được vai trò của cấp cơ sở.

2. Sự bất hợp lý trong quy định về hợp đồng giữa hai Doanh nghiệp tư nhân được luận án phân tích như thế nào?

Theo Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 và Pháp lệnh năm 1994, hợp đồng có mục đích kinh doanh ký giữa hai Doanh nghiệp tư nhân không được coi là hợp đồng kinh tế (vì thiếu chủ thể là pháp nhân) và tranh chấp phải giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Luận án khẳng định quy định này là bất hợp lý vì Doanh nghiệp tư nhân đã được Luật Doanh nghiệp tư nhân thừa nhận quyền tự do kinh doanh và có vốn pháp định lớn; việc buộc họ phải giải quyết tranh chấp theo thủ tục dân sự làm chậm trễ quá trình xử lý tài sản, gây ứ đọng vốn và cản trở hoạt động kinh doanh.

3. Hòa giải ngoài tố tụng và hòa giải trong tố tụng khác nhau ở điểm cốt lõi nào?

Hòa giải ngoài tố tụng do các bên tự tiến hành thông qua trung gian trước khi khởi kiện, kết quả hòa giải mang tính khuyến nghị và pháp luật Việt Nam thời điểm đó chưa có cơ chế cưỡng chế thi hành bắt buộc. Ngược lại, hòa giải trong tố tụng được tiến hành tại Tòa án hoặc Trọng tài sau khi đã thụ lý vụ án; khi các bên đạt được thỏa thuận, Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và quyết định này có hiệu lực thi hành bắt buộc như một bản án.

4. Tiêu chí chủ yếu nào được sử dụng để phân biệt tranh chấp kinh tế và tranh chấp dân sự?

Luận án xác định 3 tiêu chí phân biệt cơ bản:

  • Mục đích: Quan hệ kinh tế hướng tới mục đích kinh doanh kiếm lời; quan hệ dân sự nhằm mục đích sinh hoạt, tiêu dùng cá nhân.
  • Chủ thể: Chủ thể tranh chấp kinh tế bắt buộc là thương nhân (pháp nhân hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh); chủ thể quan hệ dân sự mở rộng cho mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức.
  • Giá trị tài sản: Tranh chấp kinh tế thường có giá trị tài sản rất lớn do vốn huy động kinh doanh; tranh chấp dân sự thường có giá trị nhỏ hơn.

5. Vai trò của Tòa án kinh tế tại các quốc gia chuyển đổi như Việt Nam có điểm gì khác biệt so với các nước kinh tế thị trường phát triển?

Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển lâu đời, các phương thức ngoài Tòa án như thương lượng, hòa giải và trọng tài thương mại chiếm ưu thế vượt trội do tính bảo mật và nhanh gọn. Ngược lại, tại các quốc gia chuyển đổi như Việt Nam, do các thiết chế trọng tài phi chính phủ chưa đủ mạnh, thói quen thương mại chưa định hình và doanh nghiệp nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn nên Tòa án nhân dân tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, là chỗ dựa pháp lý cưỡng chế cuối cùng và quan trọng nhất để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể kinh doanh.


Kết luận

Luận án "Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường tòa án ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Kim Vinh là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tổng kết toàn diện 7 năm hoạt động của hệ thống Tòa kinh tế tại Việt Nam từ năm 1994 đến năm 2001. Luận án đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp luận lý thuyết luật học với phương pháp xã hội học pháp luật thông qua việc phân tích các vụ án xét xử thực tế. Các kết luận khoa học và kiến nghị lập pháp của luận án đã cung cấp luận cứ thực tiễn quan trọng cho công cuộc cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.