Chương 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ LIÊN ĐỚI BỔI THƯỜNG THIỆT HAI 1. KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm dân sự Trách nhiệm dân sự là một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật dân sự. Mặc dù là vấn đề có tính truyền thống nhưng trong pháp luật Việt Nam, khái niệm này chưa được xác định rõ ràng, điều này có thể nhận thấy khi nghiên cứu Bộ luật Dân sự 2005.
Không những pháp luật chưa có sự quy định rõ ràng, mà ngay cả trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu trách nhiệm dân sự mot cách toàn diện và có hệ thống. Chính vì vậy, việc nghiên cứu trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm dan sự liên đới bồi thường thiệt hại nói riêng là một công việc cần thiết. Trước hết cần phải lý giải và làm sáng rõ vấn đề, trách nhiệm dân sự là gì. Về nguyên tắc, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý.
Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật chỉ ra rằng, trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi mà người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải gánh chịu. Có lẽ chính vì điều đó nên trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học pháp lý Việt Nam nói riêng đều có chung quan điểm. Theo đó trách nhiệm dân sự là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm nghĩa vụ dân sự phải gánh chịu. Hậu quả bất lợi trong trách nhiệm dân sự được xác định bởi đối tượng điều chỉnh của nó.
Đó là các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản. Dù quan niệm như vậy nhưng trong khoa học pháp lý của Việt Nam, cụ thể là trong các giáo trình Luật Dan sự [57, tr.46] trách nhiệm dân sự chưa được hiểu thống nhất. Đa số các tác giả căn cứ theo các quy định của BLDS 2005 về trách nhiệm dân sự đã phân chia trách nhiệm dân sự thành hai loại: Loại thứ nhất, trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ (các tác giả có ý muốn nói là trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thực tế), loại trách nhiệm này được quy định tại các Điều 303, 304, 305, 306 Bộ luật Dân sự 2005. Loại thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Cách phân chia như vậy chưa phù hợp với lý thuyết về trách nhiệm pháp lý vì những lý do sau đây: Thứ nhất, việc bên vì phạm nghĩa vụ bị bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thực tế không thể coi là họ phải chịu trách nhiệm. Khi phải thực hiện nghĩa vụ thực tế, bên vi phạm hoàn toàn không phải chịu bất kỳ một hậu quả pháp lý bất lợi nào mà chỉ đơn giản là họ phải thực hiện những gì mà họ chưa thực hiện trong thời hạn, theo quy định của pháp luật hay như đã cam kết. Ví dụ, theo quy định tại Điều 303 Bộ luật Dân sự 2005, trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật được xác định cụ thể như sau: 1) Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thi người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó, nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật; 2) Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùng loại thì phải thanh toán giá trị của vật; 3) Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản l và khoản 2 Điều này gây thiệt hai cho bên có quyền thì ngoài việc thanh toán giá trị của vật còn phải bồi thường thiệt hại cho bên có quyền. Việc bên có nghĩa vụ “phải thanh toán giá trị của vật” trong trường hợp “không giao vat” cho người có quyền theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 nói trên không thể coi là trách nhiệm của bên không thực hiện nghĩa vụ, bởi lẽ việc thanh toán giá trị của vật không thể coi là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm phải gánh chịu do đã không thực hiện nghĩa vụ giao vật.
Mặt khác, việc thanh toán giá trị của vật không phải là sự đền bù thiệt hại cho bên có quyền, mà theo lý thuyết, trách nhiệm dân sự phát sinh chỉ khi có thiệt hại xảy ra. Do vậy trách nhiệm dân sự chỉ có thể là việc bên vi phạm nghĩa vụ “phải bồi thường thiệt hại cho bên có quyền” được quy định tại khoản 3 Điều 303. 10 Thuật ngữ trách nhiệm, cũng được hiểu chưa thật chính xác tại các Điều 435, 436, 437 BLDS 2005. Ví dụ, khoản 2, Điều 435 quy định, trong trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận thì bên mua có một trong các quyền sau đây: 1) Nhận phần đã giao và yêu câu bồi thường thiệt hai; 2) Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu; 3) Huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Các biện pháp như: Định thời hạn để người bán giao tiếp phần còn thiếu và huỷ hợp đồng không phải là trách nhiệm của người bán, mà chúng phải được coi là những chế tài được áp dụng cho bên vi phạm nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên bi vi phạm. Liên quan đến vấn đề này, quy định của Luật Thương mại 2005 rõ ràng hơn. Trong hợp đồng mua bán, nếu người bán chậm giao hàng và người mua yêu cầu người bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng mặc dù đã hết thời hạn được quy định trong hợp đồng. Trong trường hợp này việc người bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng sau khi hết thời hạn không thể coi là họ chịu trách nhiệm.
Bởi vì, người bán trong trường hợp này không phải chịu một hậu quả bất lợi nào mà chỉ đơn giản là họ thực hiện nghĩa vụ giao hàng của mình, nghĩa vụ mà họ phải thực hiện trước đó nhưng họ chưa thực hiện (có thể nói là cùng một việc nhưng chưa làm trước thì phải làm sau). Buộc người có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ thực tế chỉ được coi là một trong những biện pháp chế tài mà không phải là trách nhiệm dân sự, và đây được coi là một trong những biện pháp nhằm khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm hai. Về bản chất “phải thực hiện nghĩa vụ giao vật” giao tiếp phần còn thiếu chính là nghĩa vu của bên có nghĩa vụ mà không phải là trách nhiệm của họ. Vì vậy, để tránh sự nhầm lẫn trong việc sử dụng thuật ngữ và để phân biệt trách nhiệm dân sự với các biện pháp chế tài khác, các Điều 303, 304, li 305.
306 Bộ luật Dân sự thay vì sử dụng thuật ngữ “Trách nhiệm” nên sử dụng thuật ngữ “Hậu quả pháp lý”. Ví dụ: hậu quả pháp lý do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự; hay hậu quả pháp lý do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Thứ hai, hậu quả bất lợi không chỉ do phải bồi thường thiệt hại mà còn có thể do biện pháp khác. Ví dụ: phải trả tiền phạt vi phạm, mất tiền cọc, tiền ký quỹ, và tất cả các biện pháp trên đều được coi là có tính chất đền bù cho bên bị vi phạm.
Trong khoa học pháp lý của các nước, khái niệm trách nhiệm dân sự không những trong một thời gian dài mà hiện nay vẫn còn có nhiều tranh luận. Có thể nói rằng, trong Luật Dân sự có nhiều khái niệm được sử dụng trong những mục đích khác nhau và mỗi mục đích quy định ý nghĩa của khái niệm tương ứng. Trong trường hợp này thì khái niệm trách nhiệm dân sự cũng không phải là ngoại lệ. Điều này được giải thích bởi sự tồn tại của nhiều quan điểm về bản chất của chính khái niệm trách nhiệm dân sự được thể hiện trong khoa học pháp lý.
Vấn đề ở chỗ là các kết luận được đưa ra thường phụ thuộc vào khía cạnh được chọn để nghiên cứu của khái niệm có nhiều ý nghĩa này. Trong những trường hợp, khi trách nhiệm dân sự được xem xét như là một loại của trách nhiệm xã hội thì các luật gia cho rằng cần thiết phải đưa ra, với ý nghĩa là dấu hiệu chính của khái niệm này, những đặc điểm cho phép phân biệt trách nhiệm pháp lý (trong đó có cả trách nhiệm dân sự) với các loại trách nhiệm xã hội khác: như trách nhiệm đạo đức; trách nhiệm công chức. Quan điểm này đưa các tác giả đến kết luận rằng, trách nhiệm dân sự là một hình thức cưỡng chế nhà nước.Gribanov định nghĩa trách nhiệm dân sự như là một hình thức cưỡng chế mang tính nhà nước liên quan đến việc áp dung chế tài mang tính vật chất được đưa ra nhằm khôi phục lại quyền lợi bị xém hai và khuyến khích những quan hệ bình thường của những người tham gia lưu thông dân sự bình dang về pháp lý [70, tr. Một số tác giả lai cho rằng: “Mặc dù trách nhiệm có thể được thực hiện không cần phải ha qua thủ tục khiếu kiện và ngay cả bên mac nợ tự giác trả tiền phạt hoặc đền bù thiệt hại cho bên bị hại thì cũng không làm thay đổi tính cưỡng chế nhà nước của trách nhiệm” [71, tr.
Nhận thấy rằng, sự cưỡng chế mang tính nhà nước, tính cưỡng chế đặc trưng cho mọi chế tài pháp lý và là biện pháp cưỡng chế được hình thành trên cơ sở quy phạm pháp luật. Nhà luật học người Nga O.Ioffê đã nhận xét một cách đúng đắn rằng: Không phải chế tài nào cũng là biện pháp của trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm- đó là chế tài do vi phạm pháp luật nhưng chế tài không phải lúc nào cũng có nghĩa là trách nhiệm. Tác giả đồng ý với quan điểm này, ví dụ: tài sản được trưng thu từ việc chiếm đoạt không đúng luật trong thủ tục cưỡng chế rõ ràng là một biện pháp chế tài và được coi như là hậu quả của sự vi phạm pháp luật.
Tương tự như vậy, việc buộc một người phải thực hiện nghĩa vụ đang tồn tại được coi là chế tài mà không phải là trách nhiệm. Những biện pháp chế tài này không thể coi là trách nhiệm bởi vì nó không liên quan đến sự tước đoạt nào đối với người vi phạm, ở người này vật bị trưng thu và vật ấy không thuộc sở hữu của người đó, ở người kia đó là bổn phận, nghĩa vụ đáng ra họ đã phải thực hiện mà không cần một sự cưỡng chế nào. Việc buộc họ phải thực hiện không làm nặng thêm nghĩa vụ của họ đối với bèn có quyền.