Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 1. Lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp hợp đồng thương mại 1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng thương mại Trong nền kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh có quan hệ kinh tế thương mại chặt chẽ và khắng khít với nhau.
Các chủ thể khi tham gia quan hệ kinh tế đều muốn giữ lòng tin, duy trì sự hợp tác lâu dài nhằm đảm bảo tình đoàn kết, phát triển ổn định. Tuy nhiên, vì lý do nào đó, mối quan hệ kinh tế giữa họ lại có sự bất đồng dẫn đến tranh chấp trong kinh tế thương mại, đặc biệt là tranh chấp Hợp đồng thương mại. Để hiểu như thế nào là Tranh chấp hợp đồng thương mại thì cần tìm hiều rõ các khái niệm về Tranh chấp là gì? Hợp đồng là gì? Thương mại là gì? từ đó ta có thể hiểu rõ hơn về Tranh chấp Hợp đồng thương mại. a, Tranh chấp là gì? Khi các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế đều không tránh những mâu thuẫn, việc tranh chấp thường phát sinh từ những mâu thuẫn đó.
Như vậy, mâu thuẫn được hiểu là quy luật chung của xã hội, là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển – đây là quan điểm theo chủ nghĩa - Mac Lênin. Trong cuộc sống, mâu thuẫn luôn tồn tại, đó là điều tất yếu ở mọi nơi, trên mọi lĩnh vực tạo nên sự phát triển của xã hội. Và tranh chấp là những xung đột thường phát sinh từ những mâu thuẫn và từ những lợi ích của các bên tranh chấp muốn đạt được nhằm bảo về quyền lợi của mình. Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, “Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có mâu thuẫn, bất đồng, thường trong vấn đề quyền lực giữa hai bên” [1,66, tr1024].
b, Hợp đồng là gì? Các quốc gia trên thế giới khác nhau sẽ có cách định nghĩa hợp đồng khác nhau. Xét từ khía cạnh bảo vệ quyền lợi của các chủ thể khi tham gia trong hoạt 7 động kinh tế, các quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa ra khái niệm hợp đồng: Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Hồng Kong, Ấn Độ, Nauy, Anh… Tại Cộng Hòa Pháp thì có quan điểm: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”. Theo quan điểm của Hoa Kỳ cho rằng: “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự “thỏa thuận” của các bên…”. Trung Quốc quy định: “Hợp đồng theo quy định của luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên, các tổ chức khác…”.s Phan Thị Thu Hà (Viện khoa học xét xử TANDTC) cũng có bài viết bàn về những điểm chung và sự khác biệt của một số nước và Việt Nam về khái niệm hợp đồng và cho rằng: “Ở Việt Nam, thì có rất nhiều quan điểm khác nhau về Hợp đồng dẫn đến nhiều tranh cãi khái niệm dân sự theo nghĩa rộng (gồm cả kinh doanh, thương mại, lao động) và theo nghĩa hẹp là không bao gồm kinh doanh, thương mại, lao động.
Đồng tình với quan điểm của tác giả Lê Minh Hùng trong luận án tiến sĩ về “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” như sau: “Về lôgic, từ dân sự được đặt ở vị trí này là nhằm xác định rõ nghĩa của khái niệm hợp đồng, nhằm để chỉ đây là hợp đồng dân sự chứ không phải là hợp đồng khác (thương mại, lao động).” Yếu tố cơ bản nhất của hợp đồng là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau. Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối.
Tóm lại, theo quan điểm của bản thân thì cho rằng Hợp đồng là sự thỏa thuận 8 giữa hai hay nhiều bên với mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Đồng thời, khi giao kết một hợp đồng nào đó thì đây là một hành vi pháp lý, thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Ngoài ra, các chủ thể trong hợp đồng luôn đóng vai trò quan trọng và cần có sự thống nhất của giữa các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các nghĩa vụ nên có sự ràng buộc giữa các bên với nhau. c, Thương mại là gì? Đối với thương mại thì thường được hiểu: Thương mại là khâu nối liền sản xuất với tiêu dùng thông qua việc luân chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa người bán và người mua bao gồm những hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,…giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại trao đổi hàng hóa.
Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ. cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó. Hiện nay, các quan hệ kinh tế trong hợp đồng thương mại cũng thay đổi theo sự phát triển chung của xã hội, các thành phần kinh tế ngày một đa dạng và trở nên phong phú hơn. Hợp đồng thương mại thể hiện được nguyên tắc các chủ thể tự nguyện, bình đẳng với nhau và trở thành phương tiện nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh.
Tóm lại, trong nền kinh tế thì trường thì đây là hình thức pháp lý chủ yếu giúp các quan hệ giữa các chủ thể kinh tế thực hiện công việc của mình. Đồng thời, theo quan điểm của nhiều nước khác trên thế giới, chẳng hạn như: Pháp, Đức, Tây Ban Nha,.thì họ cho rằng giao dịch thương mại là khi các giao dịch gắn liền với hoạt động thương mại của các chủ thể kinh tế thì mới trở thành giao dịch thương mại. Còn đối với hợp đồng thương mại thì thể hiện ý chí, sự thống nhất giữ các bên khi thực hiện giao dịch thương mại và đây thực chất cũng là một dạng của giao dịch này. Hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự.
Do đó, hợp đồng thương mại đều là những giao dịch có bản chất dân sự, thiết lập trên cơ sở tự 9 nguyện, bình đẳng và thỏa thuận của các bên; đều hướng tới lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung khi tham gia giao kết hợp đồng; đều có những vấn đề cơ bản như: giao kết hợp đồng, nguyên tắc và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu… Tuy nhiên, do xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của hoạt động thương mại nên hợp đồng thương mại có những vấn đề được quy định có tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luật truyền thống như: chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng… Từ những khái niệm và phân tích trên thì có thế hiểu như thế nào là Tranh chấp Hợp đồng thương mại? Tuy nhiên, bên cạnh thuật ngữ trên, thì trên thực tế có rất nhiều thuật ngữ khác nhau, chẳng hạn có người lại nói là “Tranh chấp Hợp đồng kinh tế”. Tranh chấp hợp đồng thương mại có thể được hiểu là sự mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm, ý kiến của các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng với nhau liên quan đến việc thực hiện hay không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, thậm chí việc bất đồng ý kiến về việc đánh giá hành vi vi phạm hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ việc vi phạm quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng cũng được xem là tranh chấp hợp đồng. Tranh chấp hợp đồng thương mại thể hiện qua các loại hợp đồng thương mại cụ thể như: các thỏa thuận về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; những hợp đồng trong các hoạt động đầu tư thương mại đặc thù khác ví dụ: hợp đồng giao nhận thầu xây lắp, hợp đồng chuyển nhượng dự án khu đô thị mới, khu nhà ở, dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp. Đặc điểm tranh chấp hợp đồng thương mại Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại.
Với cách hiểu về hợp đồng thương mại như trên, hợp đồng thương mại mang những đặc điểm đặc thù như sau: Thứ nhất, về chủ thể thì hợp đồng thương mại được giao kết giữa các chủ thể 10 là thương nhân. Việc xác định tranh chấp thương mại thì cần xác định trong đó có ít nhất một bên chủ thể là thương nhân. Tuy nhiên, cũng có thể các cá nhân, tổ chức hoạt đông liên quan đến thương mại, chẳng hạn: tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp nhất, giải thể, chia, tách…công ty hoặc tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty. Vì vậy, một tranh chấp được coi tranh chấp hợp đồng thương mại thì phải có ít nhất một bên là thương nhân trong giao kết hợp đồng.
Ngoài ra, cũng có một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp này. Thứ hai, về hình thức thì hợp đồng thương mại được thực hiện theo cách thức mà hai bên thỏa thuận. Hợp đồng có thể được thể hiện qua lời nói, bằng văn bản hay hành vi cụ thể của các bên giao kết. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp nhất định thì hợp đồng phải được thiết lập bằng văn bản, ví dụ như hợp đồng quảng cáo, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, triển lãm thương mại, đại lý thương mại,… Thông thường các hợp đồng thương mại được xác lập bằng văn bản để đảm bảo sự an toàn và dễ giải quyết khi xảy ra tranh chấp, nhưng đối với những hợp đồng đơn giản, việc mua bán cần diễn ra nhanh chóng thì các bên có thể xác lập hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng một hành vi cụ thể.