CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự Miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, trước khi xây dựng khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, vấn đề cơ bản đầu tiên là phải làm rõ khái niệm trách nhiệm hình sự vì miễn trách nhiệm hình sự có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với chế định trách nhiệm hình sự. Để tìm hiểu và nghiên cứu khái niệm và bản chất pháp lý của chế định miễn trách nhiệm hình sự, trước tiên phải xem xét, tìm hiểu khái niệm và các nội dung cơ bản của chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam. Miễn trách nhiệm hình sự xuất hiện khi có trách nhiệm hình sự, cho nên việc nhận thức khoa học đúng đắn về trách nhiệm hình sự sẽ tạo cơ sở vững chắc cho nhận thức về miễn trách nhiệm hình sự.
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định. Là một dạng của trách nhiệm pháp lý, từ trước đến nay, xung quanh khái niệm "trách nhiệm hình sự" là gì (?) vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, mà cụ thể là: Theo TSKH Lê Cảm thì "trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định" [9, tr.TSKH Đào Trí úc lại quan niệm "trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước" [45, tr.41]; 10 Và theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và TS. Lê Thị Sơn thì "trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích" [18, tr. Do đó, dưới góc độ khoa học luật hình sự, TSKH.
Lê Cảm đã đưa ra định nghĩa về trách nhiệm hình sự qua hai vấn đề, cơ sở và điều kiện: "Cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm" - "Điều kiện của trách nhiệm hình sự là căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy định mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng (các căn cứ riêng đó) thì một người mới phải chịu trách nhiệm hình sự" [7, tr. Như vậy, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi người đó có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự về việc thực hiện tội phạm. Nhưng trong thực tiễn có một số trường hợp, một người phạm tội mặc dù có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự nhưng khi có căn cứ và những điều kiện nhất định thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, và cũng có thể họ được miễn trách nhiệm hình sự. Cho nên, có thể khẳng định rằng, cơ sở của miễn trách nhiệm hình sự cũng xuất phát từ cơ sở của trách nhiệm hình sự.
Trong luật hình sự Việt Nam, chế định miễn trách nhiệm hình sự đã thể hiện được chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội, qua đó nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, tạo điều kiện về giáo dục, cải tạo để họ nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Đến thời điểm này, việc đưa ra khái 11 niệm về miễn trách nhiệm hình sự trong trong khoa học luật hình sự vẫn có nhiều quan điểm khác nhau như: "Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [10, tr. 7]; "Miễn trách nhiệm hình sự là việc miễn kết tội cũng như áp dụng hình phạt đối với người thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có tội. Nói cách khác, miễn trách nhiệm hình sự là miễn những hậu quả pháp lý đối với người phạm tội do pháp luật hình sự quy định" [7, tr.
14]; "Miễn trách nhiệm hình sự là việc hủy bỏ sự đánh giá tiêu cực đối với người đó dưới hình thức bản án" [6, tr. 31]; "Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý về các tội phạm đối với người thực hiện tội phạm khi có những điều kiện theo quy định của pháp luật" [14, tr. 109]; "Miễn trách nhiệm hình sự là một nguyên tắc của luật hình sự dựa trên cơ sở xung đột về lợi ích, dùng để chỉ ra rằng không có tội phạm được thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của một người nào đó đã thỏa mãn cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan đối với một loại tội phạm. Nguyên tắc này được nhắc đến như là miễn trách nhiệm hình sự và không phải là miễn hình phạt bởi vì bị cáo không chỉ tránh khỏi hình phạt mà hơn thế nữa hành vi đó không được coi là tội phạm trong những điều kiện miễn trừ" [8, tr.
"Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định" [7, tr. 269]; "Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc tội một người chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện" [12, tr. 321]; "Miễn trách nhiệm hình sự là không truy cứu trách nhiệm hình sự một 12 người về việc đã thực hiện một tội phạm được quy định trong luật hình sự, thể hiện trong một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" [18, tr. 238]; "Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà người đó đã phạm" [13, tr.
166]; Tổng hợp tất cả các quan điểm khoa học trong nước ta thấy đều tương đối thống nhất trong việc khẳng định rõ nội dung và bản chất pháp lý của miễn trách nhiệm hình sự. Tóm lại, để xây dựng một khái niệm thì trong đó phải thể hiện được đầy đủ và chính xác về nội dung, bản chất, đối tượng áp dụng, hình thức thể hiện ngắn gọn và nhất quán về mặt pháp lý, đồng thời phù hợp với thực tiễn và chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước. Và trên cơ sở tổng kết một số các quan điểm khoa học nêu trên, kết hợp với việc phân tích các quy định của pháp luật hình sự có liên quan, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo tác giả khái niệm miễn trách nhiệm hình sự có thể được định nghĩa như sau: Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, được thể hiện bằng văn bản của cơ quan tiến hành tố tụng với nội dung không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định. Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự Từ các khái niệm nêu trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định về miễn trách nhiệm hình sự của pháp luật hình sự hiện hành, chúng ta có thể đưa ra một số đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng phản ánh rõ nét và thể hiện tính nhân đạo của chính sách hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Và chế định miễn trách nhiệm hình sự là một trong những biện pháp hữu hiệu để Nhà nước ta thực hiện chính sách phân hóa và trong đường lối xử lý thể hiện được phương châm "nghiêm trị kết hợp 13 với khoan hồng", "trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo". Và chỉ có thể được đặt ra đối với người nào là chủ thể của chính tội phạm ấy, đồng thời phải đáp ứng đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện trong từng trường hợp cụ thể được quy định trong pháp luật hình sự hiện hành, cũng như tuỳ thuộc vào từng trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có thể là tuỳ nghi (lựa chọn) hay bắt buộc. Còn trong thực tiễn áp dụng, ngay cả khi trường hợp có đầy đủ căn cứ pháp lý và đáp ứng đủ các điều kiện quy định, nhưng nếu trường hợp đó là tuỳ nghi (lựa chọn) thì việc áp dụng hay không áp dụng miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội đó là do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định. Thứ hai, người được miễn trách nhiệm hình sự không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội, nhưng nếu không có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện do luật định thì người đó có thể phải chịu hậu quả bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế hình sự được quy định trong pháp luật hình sự.
Như vậy, không phải bất kỳ trường hợp nào một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, bị xã hội lên án và đáng bị xử lý về hình sự đều phải chịu trách nhiệm hình sự, mà có trường hợp xét thấy không cần phải áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó mà vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, thể hiện được việc giáo dục, cải tạo tốt để hòa nhập với cộng đồng của người phạm tội. Bên cạnh đó, việc người phạm tội đáp ứng được những điều kiện nhất định khác thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho họ. Thứ ba, theo giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, miễn trách nhiệm hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định phải được thể hiện bằng văn bản. Hiện tại, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra (bằng văn bản) khi có căn cứ quy định tại Điều 16, Điều 29 và khoản 14 2 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.