chương I của luận văn nhằm hệ thống hóa và tổng hợp các lý luận cơ bản về tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ quan hành chính Nhà nước. + Phƣơng pháp phân tích luật viết: Phương pháp này cũng được sử dụng tại chương II để phân tích các quy định từ các văn bản pháp quy hiện hành liên quan đến giải quyết tranh chấp đất đai. + Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng trong các chương của Luận văn, phương pháp này dùng để sử dụng vào việc đối chiếu, so sánh các quy định từ các văn bản pháp quy hiện hành, các quan điểm, ý kiến về các vấn đề pháp lý liên quan đến pháp luật về tranh chấp đất đai tại cơ quan hành chính Nhà nước. + Phƣơng pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng tại phần 1 chương 3 của Luận văn để phân tích thực trạng và xu hướng tranh chấp đất đai và kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trong thực tiễn tại các cơ quan Nhà nước ở tỉnh Cà Mau.
ngh a và khả năng ứng dụng của Luận văn Đề tài nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng về giải quyết TCĐĐ tại cơ quan hành chính Nhà nước ở tỉnh Cà Mau. Trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập, tồn tại của pháp luật đất đai hiện hành về thẩm quyền và thủ tục giải quyết TCĐĐ tại cơ quan hành chính; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết TCĐĐ tại cơ quan hành chính nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học. Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo đối với cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật trong quá trình xây dựng, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật giải quyết TCĐĐ nói riêng ở nước ta.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai 1. Khái niệm chung về tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai Đất đai là một loại tài sản quý giá, một tài nguyên do thiên nhiên ban tặng cho con người. Vì lẽ đó, có thể nói việc hưởng lợi từ đất đai trao cho, đất đai có vị trí là một đối tượng quan trọng trọng bậc nhất của quyền sở hữu.
Cũng vì thế mà tranh chấp đất đai (TCĐĐ) đã trở thành một trong những hiện tượng xảy ra trong bất kỳ một quốc gia và ở bất kỳ một thể chế chính trị nào. Trong ngôn ngữ thông thường, tranh chấp được hiểu là sự giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào 2. Tranh chấp đất đai là tranh chấp có đối tượng tranh chấp là đất đai. Nếu coi đối tượng của tranh chấp là đất đai thì tranh chấp đất đai cũng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, tranh chấp đất đai là sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền sở hữu, quản lý hoặc quyền sử dụng đất đai. Tranh chấp này có thể được phát sinh trực tiếp hoặc phát sinh một cách gián tiếp trong quá trình các bên tranh chấp quản lý và sử dụng đất đai. Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Tuy vậy, thực tế vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này.
Có quan điểm cho rằng, tranh chấp đất đai chỉ là những tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất3. Tuy nhiên, trong Luật Đất đai năm 2013 lại không có khái niệm hay định nghĩa nào về tranh chấp quyền sử dụng đất, cho nên thế nào là tranh chấp về quyền sử dụng đất là hoàn toàn phụ thuộc vào cách hiểu của các bên có liên quan và đặc biệt là của cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Cũng có ý kiến cho rằng, tranh chấp đất đai là mọi tranh chấp phát sinh trong quan hệ đất đai bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính… Quan điểm này được nhiều cơ quan có thẩm quyền giải quyết chấp nhận vì Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, 2 http://tratu.vn/dict/vn_vn/Tranh_ch%E1%BA%A5p 3 Lưu Quốc Thái (2006), Bàn về khái niệm tranh chấp dất đai theo Luật đất đai 2003, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2006. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau: “1.
Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết; 2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này; b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; 3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; 4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp.
Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.” Trong thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ. Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử (giải quyết). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Trong luận văn này, Khái niệm tranh chấp đất đai chỉ được hiểu trong phạm vi tranh chấp giữa các chủ thể về quyền và nghĩa vụ sử dụng đất.
Các dạng tranh chấp đất đai Theo Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai 2013 thì tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Trong khái niệm này chúng ta cần lưu ý: đối tượng của tranh chấp đất đai không phải là quyền sở hữu đất, các chủ thể tham gia tranh chấp không phải là các chủ thể có quyền sở hữu đối với đất. Đây là điều không phải bàn cãi vì Điều 53, Hiến pháp 2013 hay điều 4, Luật đất đai 2013 quy định rất rõ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Trên thực tế, tranh chấp đất đai không chỉ là hiện tượng phổ biến mà trong đó còn hết sức đa dạng về chủ thể cũng như nội dung tranh chấp.
Tuy nhiên, về cơ bản tranh chấp đất đai được chia thành ba dạng như sau: - Tranh chấp về quyền sử dụng đất: là những tranh chấp giữa các bên với nhau về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào đó. Trong dạng tranh chấp này chúng ta thường gặp các loại tranh chấp về ranh giới đất; tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong các quan hệ ly hôn, thừa kế; tranh chấp để đòi lại đất (đất đã cho người khác mượn sử dụng mà không trả lại, hoặc tranh chấp giữa người dân tộc thiểu số với người đi xây dựng vùng kinh tế mới…) - Tranh chấp về quyền, ngh a vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất: dạng tranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất hoặc các tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư… - Tranh chấp về mục đích sử dụng đất: đây là dạng tranh chấp ít gặp hơn, những tranh chấp này liên quan đến việc xác định mục đích sử dụng đất là gì. Thông thường những tranh chấp này cũng dễ có cơ sở để giải quyết vì trong quá trình phân bổ đất đai cho các chủ thể sử dụng, Nhà nước đã xác định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất. Tranh chấp chủ yếu do người sử dụng đất sử dụng sai mục đích so với khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.3 Đặc điểm của tranh chấp đất đai Là một dạng đặc biệt của tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai vừa chứa đựng những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, lại vừa có những đặc điểm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 đặc trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh doanh, thương mại khác.