MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, các lĩnh vực và các ngành sản xuất, nhất là xuất khẩu. Việt Nam cũng nằm trong quỹ đạo đó và đã thực sự đạt đƣợc nhiều thành tựu nổi bật trong xuất khẩu góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế trong nƣớc và khu vực.Với kim ngạch xuất khẩu gia tăng liên tục trong những năm gần đây càng khẳng định vị thế của Việt nam trên trƣờng quốc tế, ngành xuất khẩu đã đem lại nhiều thành tựu lớn cho nền kinh tế đất nƣớc trong đó có xuất khẩu đồ gỗ của Việt nam sang ba thị trƣờng xuất khẩu lớn của việt nam là Mỹ, Âu và Nhật Bản.Hiện Nhật Bản là nƣớc đứng thứ ba chiếm khoản hơn 20% về KNXK đồ gỗ của Việt Nam sang Nhật. Với những nét gần tƣơng đồng về văn hóa, Nhật Bản đƣợc xem là thị trƣờng có nhiều tiềm năng đối với Việt Nam, đặc biệt là nƣớc nhập khẩu lớn đồ gỗ từ Vịệt Nam.
Mặt dù KNXK đồ gỗ sang Nhật đều gia tăng trong những năm gần đây nhƣng nhìn chung vẫn còn thấp hơn KNXK sang Nhật của các nƣớc Mỹ, Âu. Một trong những trăn trở và tâm huyết của tác giã khi quyết định chọn đề tài này là trong thực tế quan sát, khảo sát và kinh nghiệm làm việc tại công ty Nhật Bản có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực XK đồ gỗ gia dụng Việt Nam sang thị trƣờng Nhật Bản. Ngoài những doanh nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng Việt nam đã tiếp cận và xuất khẩu đồ gỗ gia dụng sang thị trƣờng Nhật, tại sao vẫn còn nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ Việt nam vẫn còn yếu thế hơn so với các doanh nghiệp Đài Loan, Trung Quốc khi tiếp cận thị trƣờng Nhật Bản và hầu nhƣ khả năng để các doanh nghiệp Việt Nam đƣợc các công ty nhập khẩu Nhật Bản chọn làm nhà cung cấp đồ gỗ xuất khẩu vần còn yếu hơn so với các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ Đài Loan và Trung Quốc. Ngoài những nguyên nhân khách quan và chủ quan, phải chăng là các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và ngành xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam vẫn chƣa có các giải chiến lƣợc hoàn thiện để xúc tiến và đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ gia dụng Việt Nam sang thị trƣờng Nhật Bản.Chính vì vậy mà em quyết định chọn đề tài nghiên cứu “ Giãi Pháp đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ gia dụng Việt Nam sang thị trƣờng Nhật Bản”.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu nghiên cứu: - Nghiên cứu cơ sở lý luận cơ bản về lý thuyết xuất khẩu và lợi thế cạnh tranh - Nghiên cứu kinh nghiệm xuất khẩu đồ gỗ gia dụng sang thị trƣờng Nhật Bản của các doanh nghiệp Đài Loan làm nền tảng bổ sung đƣa ra các giải pháp - Phân tích và đánh giá thực trạng lợi thế xuất khẩu đồ gỗ gia dụng Việt Nam sang thị trƣờng Nhật Bản của các doanh nghiệp Việt Nam so với các nƣớc trong khu vực - Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ gia dụng Việt Nam sang thị trƣờng Nhật Bản 3. Đối tƣợng nghiên cứu: Sản phẩm gỗ gia dụng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trƣờng Nhật Bản Thực trạng lợi thế xuất khẩu đồ gỗ gia dụng của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trƣờng Nhật Bản trong thời gian qua 4. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu cụm doanh nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu nằm khu vực Khu vực Miền Đông Nam Bộ gồm : TP.HCM, Bình Dƣơng, Đồng Nai.
Những nội dung mới của Luận Văn: Ngoài việc đƣa ra những giải pháp chung nhằm giúp các doanh nghiệp vận dụng một cách linh hoạt tùy theo điều kiện và tình hình cụ thể của doanh nghiệp mình, đề tài tập trung nhấn mạnh giải pháp giúp các doanh nghiệp đẩy mạnh hình thức xuất khẩu trực tiếp đồ gỗ gia dụng qua các công ty nhập khẩu Nhật Bản và khách hàng lớn Nhật Bản có hệ thống cửa hàng và trung tâm phân phối đồ gỗ gia dụng lớn ở Nhật chuyên nhập khẩu trực tiếp sản phẩm gỗ từ các doanh nghiệp XK đồ gỗ gia dụng Việt Nam, Luận văn còn khuyến nghị các doanh nghiệp Việt Nam nên áp dụng hình thức cải thiện nhà máy theo tiêu chuẩn Nhật Bản QAV 1 để giúp các doanh nghiệp XK đồ gỗ Việt Nam dễ dàng đƣợc khách hàng chấp nhận làm nhà cung cấp khi họ kiểm tra đánh giá nhà máy theo tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung cấp 6. Phƣơng pháp nghiên cứu: Thu thập thông tin, số liệu sơ cấp và thứ cấp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Phƣơng pháp duy vật biện chứng, thống kê, tổng hợp số liệu, dự báo, phƣơng pháp chuyên gia Khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng xuất khẩu của Việt Nam và một số doanh nghiệp Đài Loan FDI qua bảng câu hỏi khảo sát Tham khảo ý kiến và kinh nghiệm của các chuyên gia trong ngành xuất khẩu đồ gỗ 7. Khách thể nghiên cứu: Các doanh nghiệp chế biến đỗ gỗ gia dụng ở TP. HCM và Đông Nam Bộ Bố cục của đề tài gồm ba chƣơng CHƢƠNG 1: CƠ SƠ LÝ THUYẾT VỀ XUẤT KHẨU VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ GIA DỤNG SANG THỊ TRƢỜNG NHẬT BẢN CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG LỢI THẾ XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ GIA DỤNG VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG NHẬT BẢN CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ GIA DỤNG VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG NHẬT BẢN LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XUẤT KHẨU VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ GIA DỤNG SANG THỊ TRƢỜNG NHẬT BẢN 1. Khái niệm về xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu 1. Khái niệm về xuất khẩu Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nƣớc thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới.
Vậy xuất khẩu là việc bán hàng hoá trong đó hàng hoá có thể là hữu hình hoặc vô hình cho một nƣớc khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm đồng tiền thanh toán. Tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nƣớc hoặc là tiền của một nƣớc thứ ba còn gọi là đồng tiền dùng thanh toán quốc tế. Vai trò của xuất khẩu Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế toàn cầu thì hoạt động xuất khẩu là hoạt động rất cần thiết. Thông qua hoạt động xuất khẩu các quốc gia tham gia vào hoạt động này phụ thuộc vào nhau nhiều hơn.
Dựa trên cơ sở về lợi thế so sánh giữa các quốc gia từ đó mà tính chuyên môn hoá cao hơn, làm giảm chi phí sản xuất và các chi phí khác từ đó làm giảm giá thành. Mục đích của các quốc gia khi tham gia xuất khẩu là thu đƣợc một lƣợng ngoại tệ lớn để có thể nhập khẩu các trang thiết bị máy móc, kĩ thuật công nghệ hiện đại… tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống của nhân dân, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển và rút ngắn đƣợc khoảng cách chênh lệch quá lớn giữa các nƣớc. Trong nền kinh tế thị trƣờng các quốc gia không thể tự mình đáp ứng đƣợc tất cả các nhu cầu mà nếu có đáp ứng thì chi phí quá cao, vì vậy bắt buộc các quốc gia phải tham gia vào hoạt động xuất khẩu, để xuất khẩu những gì mà mình có lợi thế hơn các quốc gia khác để nhập những gì mà trong nƣớc không sản xuất đƣợc hoặc có sản xuất đƣợc thì chi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 phí quá cao. Do đó các nƣớc khi tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu rất có lợi, tiết kiệm đƣợc nhiều chi phí, tạo đƣợc nhiều việc làm, giảm đƣợc các tệ nạn xã hội, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào xây dựng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc.Khái niệm lợi thế cạnh tranh và mô hình kim cƣơng của M.
Khái niệm lợi thế cạnh tranh Theo nhƣ Kinh Tế Học cổ điển, lợi thế cạnh tranh là thứ đến từ sự sẵn có tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, lãi suất, hay giá trị tiền tệ của một quốc gia. Thực tế không phải nhƣ vậy, theo Porter khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc và năng lực của các ngành của quốc gia đó trong việc đổi mới và nâng cap, còn các công ty tạo ra đƣợc lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh giỏi nhất trên thế giới là do áp lực và thách thức. Các công ty này hƣởng lợi từ việc có những đối thủ cạnh tranh mạnh ở trong nƣớc, các nhà cung ứng nội địa năng động, và những khách hàng trong nƣớc có nhu cầu. Lợi thế cạnh tranh đƣợc tạo ra và duy trì thông qua một quá trình địa phƣơng hóa cao độ; không một quốc gia nào có thể cạnh tranh tại mọi hay thậm chí phần lớn các ngành.
Cuối cùng, các nƣớc thành công trong các ngành cụ thể bởi vì môi trƣờng nội địa của các nƣớc đó hƣớng về tƣơng lai nhất, năng động nhất và thách thức nhất. Mô hình kim cƣơng Porter Liên quan đến lợi thế cạnh tranh quốc tế, Michael Porter đã đƣa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình Kim Cƣơng. Mô hình Kim Cƣơng của Porter đặt trên cơ sở những yếu tố xác định riêng của bốn yếu tố và 2 yếu tố biến thiên bên ngoài, những yếu tố xác định bao gồm: 1. Những điều kiện về năng lực - Số lƣợng, kỹ năng và những chi phí về nhân lực - Sự phong phú chất lƣợng và chi phí của những tài nguyên của quốc gia - Vốn kiến thức của quốc gia: nền khoa học kỹ thuật và những am hiểu thị trƣờng ảnh hƣởng đến chất lƣợng và số lƣợng hàng hoá và dịch vụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Số lƣợng và chi phí về vốn có sẵn đối với ngành công nghiệp tài chính - Chủng loại, chất lƣợng và chi phí sử dụng các cơ sở hạ tầng: hệ thống giao thông vận chuyển quốc gia, hệ thống truyền thông, hệ thống chăm sóc sức khỏe.
- Những yếu tố khác tác động trực tiếp đến chất lƣợng cuộc sống trong nƣớc.