Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu, kìm hãm sự tăng trưởng và cản trở tiến trình công bằng xã hội. Tại Việt Nam, khoảng cách phân hóa giàu nghèo giữa khu vực đô thị và nông thôn, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc vẫn còn tương đối sâu sắc. Dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chương trình mục tiêu quốc gia, thực tế cho thấy các chính sách giảm nghèo đôi khi chưa theo kịp đặc thù của từng địa bàn cơ sở, dẫn đến nguy cơ tái nghèo và giảm nghèo thiếu tính bền vững.

Xã Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn là một xã vùng ba (xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135) nằm ở vùng sâu, vùng xa của một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP. Với đặc thù địa hình đồi núi dốc, kinh tế thuần nông phụ thuộc vào tài nguyên tự nhiên, đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn, tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương năm 2014 vẫn ở mức cao (chiếm 44,13%). Việc điều tra thực tế nhằm bóc tách các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng chậm thoát nghèo tại xã là yêu cầu cấp thiết để xây dựng các giải pháp can thiệp khả thi.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Thị Chanh tập trung giải quyết các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu sau:

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố chính ảnh hưởng đến nghèo của các hộ nông dân, từ đó đưa ra các giải pháp xóa đói giảm nghèo tại xã Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
  • Mục tiêu cụ thể (được đánh số theo văn bản):
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo.
    2. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Thiện Long.
    3. Tìm hiểu thực trạng nghèo tại xã Thiện Long.
    4. Tìm ra nguyên nhân chính gây nên nghèo của xã.
    5. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo của người dân xã Thiện Long.
    6. Đưa ra giải pháp khắc phục các nguyên nhân gây ra nghèo.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Tại sao phải nghiên cứu nghèo tại xã Thiện Long?
  2. Đánh giá thực trạng nghèo của xã Thiện Long?
  3. Nguyên nhân nào dẫn đến nghèo của hộ, làm thế nào để xác định được một cách chính xác đâu là nguyên nhân dẫn tới nghèo của hộ, từ đó tìm ra đâu là nguyên nhân chính và đâu là nguyên nhân phụ?
  4. Làm thế nào để đưa ra các giải pháp gắn với thực tiễn, phù hợp với điều kiện thực tế của nhóm hộ nghèo trong xã?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nghèo và hộ cận nghèo trên địa bàn xã Thiện Long.
  • Phạm vi không gian: Toàn xã Thiện Long, trong đó đi sâu khảo sát thực tế tại 4 thôn đại diện: Bản Thàng, Ca Siều, Khuổi Kiếc và Khuổi Hẩu.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thống kê kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo của xã trong 3 năm (2012 - 2014); các số liệu điều tra hộ nông dân tập trung vào năm 2014. Thời gian thực tập thực tế diễn ra từ ngày 02/03/2015 đến ngày 05/04/2015.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp giữa nghiên cứu lý luận, tổng hợp tư liệu thứ cấp và điều tra xã hội học định lượng kết hợp định tính ở cấp hộ gia đình.

Cơ sở lý thuyết và văn bản áp dụng

Tác giả hệ thống hóa các khái niệm và chuẩn mực đánh giá đói nghèo quốc tế và trong nước:

  • Khái niệm của Ủy ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ASCAP, Bangkok, 1993) về việc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người theo điều kiện kinh tế - văn hóa cụ thể.
  • Định nghĩa tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội (Copenhagen, 1995) lấy ngưỡng thu nhập dưới 1 USD/người/ngày làm tiêu chuẩn tồn tại.
  • Tiêu chí phân nhóm quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) theo mức thu nhập bình quân đầu người/năm (nước cực nghèo dưới 500 USD, trung bình từ 2.000 USD, khá giàu từ 10.000 USD, cực giàu từ 20.000 USD).
  • Báo cáo và phân loại nghèo đói của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2012) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP, 2011).
  • Khung quy định chuẩn nghèo của Việt Nam do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành qua các thời kỳ (giai đoạn 1993 - 1995, 1995 - 1997, 1997 - 2000, 2001 - 2005, và Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg cho giai đoạn 2006 - 2010), cùng chuẩn nghèo nông thôn giai đoạn 2011 - 2015 (hộ nghèo có thu nhập dưới 400.000 đồng/người/tháng; hộ cận nghèo từ 400.000 đến 520.000 đồng/người/tháng).

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

  1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu từ báo cáo thống kê tình hình kinh tế - xã hội xã Thiện Long các năm 2012, 2013, 2014; hệ thống chỉ tiêu theo dõi, giám sát Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo (2012 - 2014); Đề án xây dựng nông thôn mới xã giai đoạn 2012 - 2020; hồ sơ kiểm kê đất đai năm 2014 của cán bộ địa chính xã; số liệu từ UBND huyện Bình Gia và các báo cáo ngành tỉnh Lạng Sơn.
  2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
    • Chọn điểm nghiên cứu: Toàn xã có 7 thôn với địa hình và điều kiện kinh tế phân hóa. Tác giả chọn 4 thôn đại diện: Thôn Khuổi Kiếc (trung tâm hành chính, thuận tiện giao thương), thôn Ca Siều (khu vực trung gian, kinh tế mức trung bình), thôn Bản Thàng và thôn Khuổi Hẩu (hai thôn xa trung tâm nhất, giao thông cách trở, điều kiện sản xuất khó khăn nhất).
    • Chọn mẫu điều tra: Tổng số hộ nghèo của xã năm 2014 là 248 hộ và 42 hộ cận nghèo. Tác giả chọn mẫu ngẫu nhiên 60 hộ tại 4 thôn trên, bao gồm 40 hộ nghèo và 20 hộ cận nghèo (Bản Thàng: 5 hộ nghèo, 3 cận nghèo; Ca Siều: 12 hộ nghèo, 5 cận nghèo; Khuổi Kiếc: 10 hộ nghèo, 5 cận nghèo; Khuổi Hẩu: 13 hộ nghèo, 7 cận nghèo).
    • Công cụ thu thập: Quan sát trực tiếp đời sống và tư liệu sản xuất tại hộ; phỏng vấn bán cấu trúc thông qua bảng câu hỏi chi tiết với chủ hộ; phỏng vấn sâu cán bộ xã và trưởng thôn.
  3. Phương pháp xử lý số liệu và hệ thống chỉ tiêu: Dữ liệu sau khi thu thập được tổng hợp, mã hóa và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp phân tích chủ đạo là phân tích thống kê mô tả, phân tổ thống kê và phương pháp so sánh đối chiếu.
    • Nhóm chỉ tiêu điều kiện sản xuất: Bình quân diện tích đất/hộ, diện tích đất/khẩu, vốn vay bình quân/hộ, tỷ lệ lao động/nhân khẩu.
    • Nhóm chỉ tiêu kinh tế hộ: Tổng thu nhập, chi phí sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi), tổng chi phí đời sống, thu nhập thuần, thu nhập bình quân đầu người/tháng, chi tiêu bình quân đầu người/tháng.
    • Nhóm chỉ tiêu đánh giá nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ hộ cận nghèo.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật tính cấp thiết của công tác giảm nghèo đối với việc ổn định chính trị, kinh tế - xã hội khu vực vùng cao. Đặt vấn đề nghiên cứu tại xã Thiện Long, huyện Bình Gia - nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao, địa hình phức tạp, giao thông cách trở. Phần này xác định hệ thống mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận đối với công tác điều hành tại địa phương.

Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Phần này trình bày hệ thống lý luận về đói nghèo, các phân loại (nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối), tiến trình điều chỉnh chuẩn nghèo của Việt Nam qua các thời kỳ. Về cơ sở thực tiễn, tác giả tổng kết tình hình đói nghèo toàn cầu (báo cáo của UNDP, ILO năm 2011 - 2012) và thực trạng thực hiện chương trình giảm nghèo tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Tác giả phân chia nguyên nhân nghèo ở Việt Nam thành 3 nhóm: do điều kiện tự nhiên - xã hội, do cơ chế chính sách, và do bản thân người nghèo. Đồng thời, tác giả phản ánh tình hình thực tế tại tỉnh Lạng Sơn (tỷ lệ nghèo năm 2014 còn 14,9%) và huyện Bình Gia (tỷ lệ nghèo 53,64% năm 2014 với 6.623 hộ nghèo/12.347 hộ dân).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể quy trình phương pháp luận: đối tượng khảo sát là hộ nghèo và cận nghèo; địa bàn tại 4 thôn của xã Thiện Long; chuỗi dữ liệu 2012 - 2014; quy trình lấy mẫu 60 hộ; kỹ thuật thiết kế bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc và danh mục công thức tính toán các chỉ tiêu kinh tế hộ, chỉ tiêu điều kiện sản xuất.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và dân sinh kinh tế xã Thiện Long

  • Vị trí và địa hình: Xã cách trung tâm huyện Bình Gia 40 km, tổng diện tích tự nhiên 5.486,04 ha, chia thành 7 thôn. Địa hình đồi núi dốc hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao trung bình 450 m so với mực nước biển, chia cắt mạnh gây nguy cơ sạt lở và xói mòn. Khí hậu nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt, nhiệt độ trung bình năm 20,8°C (cao nhất 37,3°C, thấp nhất -1,0°C vào mùa đông do đón gió mùa Đông Bắc). Hệ thống thủy văn có sông Nhả Cảng, suối Khuổi Hẩu, Lặm Xa, Bắc Hóa.
  • Hiện trạng tài nguyên đất đai: Tổng quỹ đất 5.486,04 ha (bình quân 2,114 ha/người). Đất lâm nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối với 3.389,45 ha (61,78% diện tích tự nhiên, gồm 2.698,07 ha rừng sản xuất và 691,38 ha rừng phòng hộ). Đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 704,93 ha (12,85%), trong đó đất trồng lúa là 196,90 ha (3,59%), đất trồng cây hàng năm khác 109,48 ha, đất cây lâu năm 370,05 ha. Đất chưa sử dụng còn rất lớn: 1.193,26 ha (chiếm 21,75%).
  • Dân số và lao động: Năm 2014, xã có 562 hộ với 2.595 nhân khẩu. Cơ cấu dân tộc gồm 89,2% dân tộc Nùng và 10,8% dân tộc Dao (người Dao phân bố rải rác trên vùng núi cao, người Nùng tập trung ở khu vực thấp hơn). Tổng số lao động năm 2014 là 1.588 người; trong đó lao động nông nghiệp chiếm 92,76% (1.473 người), lao động phi nông nghiệp chỉ chiếm 7,24% (115 người).
  • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội: Xã có 55,7 km đường giao thông các loại, nhưng chỉ mới bê tông hóa được 7 km (12,56%), còn lại 37,7 km là đường đất và đường đá cấp phối, gây trở ngại vào mùa mưa. Mạng lưới điện lưới quốc gia phủ 7 thôn qua 5 trạm biến áp, đạt 91,28% số hộ sử dụng điện thường xuyên. Toàn xã có 1 trạm y tế (2 nhà cấp 4, 6 cán bộ y tế); 3 trường học với 39 phòng học (kiên cố 66,67%, tạm 10,25%, chưa trường nào đạt chuẩn quốc gia); có 4 đập dâng và 5 km kênh mương kiên cố hóa, chưa có hồ chứa nước nên thường hạn hán cục bộ vào tháng 3 - 4.
  • Sản xuất nông - lâm nghiệp: Cây trồng chính gồm lúa xuân (năm 2014 đạt 85,1 ha, năng suất 5,15 tấn/ha), lúa mùa (178,15 ha, năng suất 4,4 tấn/ha), ngô xuân (39,66 ha), ngô mùa (16,15 ha), sắn (20,3 ha). Chăn nuôi năm 2014 có 848 con trâu, 162 con bò, 1.610 con lợn, 217 con dê, 4 con ngựa và 14.000 con gia cầm. Đàn dê và gia cầm sụt giảm so với năm 2013 do ảnh hưởng của dịch lở mồm long móng và dịch bệnh gia súc gia cầm. Nuôi trồng thủy sản chỉ đạt 16,74 ha, nhỏ lẻ phục vụ tự cung tự cấp. Lâm nghiệp đã ươm 32 kg hạt giống quế, trồng 54.550 cây phân tán (chủ yếu là lát) và khai thác gỗ xoan, trám, keo.

2. Thực trạng nghèo đói tại xã Thiện Long giai đoạn 2012 - 2014

Giai đoạn 2012 - 2014 ghi nhận xu hướng giảm tỷ lệ hộ nghèo nhưng tốc độ chậm dần và không đạt kế hoạch trong năm cuối:

  • Năm 2012: Tổng số 543 hộ, có 308 hộ nghèo (56,72%), 36 hộ cận nghèo (6,63%). Giảm 26 hộ nghèo, đạt 130% kế hoạch.
  • Năm 2013: Tổng số 554 hộ, có 277 hộ nghèo (50,00%), 40 hộ cận nghèo (7,22%). Giảm 31 hộ nghèo, đạt 110,71% kế hoạch.
  • Năm 2014: Tổng số 562 hộ, có 248 hộ nghèo (44,13%), 42 hộ cận nghèo (7,47%). Kế hoạch giảm 34 hộ nhưng chỉ giảm được 29 hộ (đạt 85,29% chỉ tiêu).
Chỉ tiêu nghèo theo thôn năm 2014 Tổng số hộ Số hộ nghèo Tỷ lệ nghèo (%) Số hộ cận nghèo Tỷ lệ cận nghèo (%)
Ca Siều 68 43 63,24 6 8,82
Bản Thàng 29 18 62,06 4 13,79
Khuổi Hẩu 84 49 58,33 9 10,71
Khuổi Kiếc 63 36 57,14 7 11,11
Tồng Nộc 116 41 35,34 8 6,90
Bắc Hóa 67 27 32,14 5 7,46
Nà Lù 135 34 25,19 3 2,22
Toàn xã 562 248 44,13 42 7,47

3. Phân tích chi tiết điều kiện sản xuất và đời sống của 60 hộ điều tra

Số liệu từ 40 hộ nghèo và 20 hộ cận nghèo cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về năng lực kinh tế:

  • Tư liệu và phương tiện sản xuất: Hộ nghèo sở hữu rất ít máy móc nông nghiệp. Máy cày chỉ có ở 20% hộ nghèo (8 máy), trong khi hộ cận nghèo đạt 65% (13 máy); máy xay xát ở hộ nghèo chiếm 5% (2 máy) so với 40% ở hộ cận nghèo; máy bơm nước chiếm 15% ở hộ nghèo và 25% ở hộ cận nghèo. Máy tuốt lúa được trang bị tại 100% các hộ của cả hai nhóm. Trâu bò cày kéo đạt bình quân 1,25 con/hộ nghèo và 2,80 con/hộ cận nghèo.
  • Điều kiện nhà ở và tiện nghi sinh hoạt: Nhóm hộ nghèo không có nhà kiên cố, 82,5% ở nhà bán kiên cố (nhà sàn) và 17,5% ở nhà tạm; trong khi nhóm cận nghèo có 25% nhà kiên cố, 75% bán kiên cố và không còn nhà tạm. Tủ lạnh chỉ xuất hiện ở 2,5% hộ nghèo nhưng đạt 50% ở hộ cận nghèo; xe máy đạt 92,5% ở hộ nghèo và 120% ở hộ cận nghèo; tỷ lệ dùng điện thoại đạt mức cao ở cả hai nhóm (200% ở hộ nghèo, 310% ở hộ cận nghèo).
  • Quy mô đất đai: Tổng diện tích đất/khẩu của hộ nghèo là 2.433,60 m², thấp hơn mức 2.769,47 m² của hộ cận nghèo. Đất trồng cây hàng năm/khẩu của hộ nghèo chỉ đạt 716,07 m² so với 897,22 m² của hộ cận nghèo (đất trồng cây hàng năm/hộ nghèo là 3.293,93 m², hộ cận nghèo là 3.858,06 m²). Đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích đất của cả hai nhóm (69,04% ở hộ nghèo, 65,92% ở cận nghèo), nhưng chủ yếu là rừng khoanh nuôi tự nhiên, người dân chỉ khai thác củi phục vụ sinh hoạt, chưa tạo ra giá trị hàng hóa.
  • Nhân khẩu, lao động và học vấn: Hộ nghèo có quy mô nhân khẩu bình quân lớn hơn (4,6 khẩu/hộ với 184 khẩu) so với hộ cận nghèo (4,3 khẩu/hộ với 86 khẩu). Số lao động bình quân là 3,1 lao động/hộ nghèo và 2,85 lao động/hộ cận nghèo. Tỷ lệ khẩu ăn theo ở nhóm nghèo là 32,62% (bình quân 1,5 người/hộ), nhóm cận nghèo là 33,72% (bình quân 1,45 người/hộ). Về trình độ văn hóa của chủ hộ, 72,5% chủ hộ nghèo chỉ học hết Cấp I, 27,5% học hết Cấp II và 0% đạt Cấp III; ở nhóm cận nghèo, 45% đạt Cấp I, 25% đạt Cấp II và 30% đạt Cấp III. Cả hai nhóm đều không có chủ hộ nào có trình độ trung cấp, cao đẳng hay đại học.
  • Tình hình vay vốn và hiệu quả sử dụng vốn tín dụng chính sách: Có 23/40 hộ nghèo tiếp cận vốn vay (tổng dư nợ 285 triệu đồng, bình quân 12,391 triệu đồng/hộ) và 8/20 hộ cận nghèo vay vốn (tổng dư nợ 195 triệu đồng, bình quân 24,375 triệu đồng/hộ) qua Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng NN&PTNT. Lãi suất ưu đãi sản xuất là 0,65%/tháng, hỗ trợ nhà ở 0,1%/tháng, vay thiếu đất sản xuất 0%. Về mục đích hợp đồng, 43,48% hộ nghèo đăng ký vay trồng trọt, 30,43% vay chăn nuôi, 17,40% hỗ trợ nhà ở, 8,70% học sinh - sinh viên. Tuy nhiên, việc sử dụng vốn vay bộc lộ sai lệch lớn: 39,13% số hộ nghèo sử dụng vốn sai mục đích (mua xe máy chiếm 21,73%, chi phí tổ chức đám cưới chiếm 8,70%, đánh bạc chiếm 8,70%); ở nhóm hộ cận nghèo có 25% sử dụng vốn sai mục đích (chuyển sang mua xe máy).
  • Xác định nguyên nhân dẫn đến nghèo:
    • Nguyên nhân khách quan: Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, mùa đông rét đậm gây sương muối; địa hình đồi núi dốc, giao thông cách trở (37,7 km đường đất); thiếu công trình thủy lợi tích nước, hạn hán thường xuyên vào đầu vụ xuân; dịch bệnh lở mồm long móng trên đàn vật nuôi.
    • Nguyên nhân chủ quan: Thiếu vốn sản xuất và thiếu phương tiện cơ giới; sử dụng vốn vay sai mục đích vào tiêu dùng hoặc tệ nạn; trình độ văn hóa thấp (72,5% chủ hộ chỉ học cấp I) dẫn đến khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật hạn chế; kỹ thuật chăn nuôi lạc hậu, chủ yếu thả rông và tự nhân giống cận huyết; gánh nặng nuôi người phụ thuộc đông; tư tưởng thụ động, ỷ lại vào chính sách trợ cấp của Nhà nước.

Phần 5: Định hướng và một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo tại xã Thiện Long

Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp chia theo hai cấp độ:

  • Giải pháp chung: Đẩy mạnh đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng nông thôn (cứng hóa đường liên thôn, xây dựng hồ đập trữ nước phục vụ tưới tiêu); hoàn thiện mạng lưới y tế và giáo dục cơ sở; nâng cao hiệu lực quy hoạch đất lâm nghiệp.
  • Giải pháp cụ thể:
    • Đối với chính quyền xã và các đoàn thể: Tăng cường giám sát quy trình giải ngân và mục đích sử dụng vốn vay chính sách; chuyển giao kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi thông qua các lớp tập huấn ngắn hạn (phòng dịch, kỹ thuật ủ phân, tiêm phòng định kỳ); vận động chuyển dịch cơ cấu cây trồng có giá trị cao như quế và các loài cây lâm nghiệp bản địa; đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào hỗ trợ của Chương trình 135.
    • Đối với hộ nghèo: Cần chủ động đăng ký tham gia các khóa đào tạo nghề và khuyến nông; lập kế hoạch chi tiêu gia đình chặt chẽ, loại bỏ chi tiêu lãng phí; cam kết sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi đúng vào sản xuất nông - lâm nghiệp; tự lực phát triển chuồng trại, cải tạo giống vật nuôi để tăng năng suất.

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả chính kèm số liệu thực chứng

  1. Luận văn đã định lượng hóa bức tranh nghèo đói tại xã Thiện Long giai đoạn 2012 - 2014: Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã giảm từ 56,72% (308 hộ) xuống 50,00% (277 hộ) và đạt 44,13% (248 hộ) vào năm 2014; tỷ lệ cận nghèo năm 2014 là 7,47% (42 hộ). Năm 2014 không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra (kế hoạch giảm 34 hộ nhưng chỉ giảm được 29 hộ, đạt 85,29%).
  2. Xác định sự phân hóa nghèo nghiêm trọng theo địa bàn: Tỷ lệ hộ nghèo tập trung cao nhất ở các thôn xa trung tâm như Ca Siều (63,24%), Bản Thàng (62,06%), Khuổi Hẩu (58,33%), trong khi thôn trung tâm Nà Lù chỉ có 25,19% hộ nghèo.
  3. Chỉ ra các nút thắt kỹ thuật và hành vi vi mô:
    • 72,5% chủ hộ nghèo chỉ có trình độ học vấn Cấp I, hạn chế tiếp thu tiến bộ kỹ thuật.
    • 39,13% hộ nghèo vay vốn ngân hàng sử dụng sai mục đích cam kết (21,73% mua xe máy, 8,70% cưới hỏi, 8,70% cờ bạc).
    • Đất đai chủ yếu là đất lâm nghiệp (61,78%) nhưng giá trị kinh tế thấp do chủ yếu là rừng tự nhiên nghèo kiệt, đất sản xuất nông nghiệp hàng năm bình quân trên đầu khẩu của hộ nghèo rất thấp (716,07 m²/khẩu so với 897,22 m²/khẩu của hộ cận nghèo).

Giải pháp và khuyến nghị đề xuất

Tác giả thiết lập hệ thống giải pháp gắn trực tiếp với điều kiện thực địa: siết chặt quy trình thẩm định và giám sát vốn vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội; tập trung kiên cố hóa 37,7 km đường đất và 4 công trình đập dâng; phổ biến mô hình kinh tế đồi rừng (trồng quế, cây lát) kết hợp chăn nuôi đại gia súc có chuồng trại và tiêm phòng dịch triệt để; thực hiện công tác xã hội nhằm thay đổi tập quán chi tiêu và loại bỏ tâm lý trông chờ viện trợ.

Đóng góp nghiên cứu

Công trình cung cấp bộ dữ liệu vi mô chi tiết về tình hình kinh tế nông hộ tại một xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Kết quả phân tích chỉ ra được những sai lệch thực tế trong việc thực thi chính sách tín dụng ưu đãi tại cơ sở, làm cơ sở khoa học để chính quyền địa phương điều chỉnh kế hoạch giảm nghèo sát với năng lực của hộ nông dân.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Quy mô điều tra chọn mẫu dừng lại ở 60 hộ (chiếm 20,69% tổng số hộ nghèo và cận nghèo của toàn xã năm 2014) do giới hạn về kinh phí và nguồn lực cá nhân của sinh viên; thời gian điều tra thực địa ngắn (từ 02/03/2015 đến 05/04/2015); các phân tích kinh tế lượng chuyên sâu chưa được triển khai mà chủ yếu dừng ở mức thống kê mô tả, phân tổ và so sánh đơn biến qua Microsoft Excel; chuỗi số liệu thứ cấp chỉ phản ánh giai đoạn 2012 - 2014.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng dung lượng mẫu khảo sát trên toàn bộ 7 thôn trong xã; ứng dụng các mô hình hồi quy xác suất (như Binary Logistic hoặc Probit) nhằm đo lường chính xác mức độ tác động của từng nhân tố (trình độ học vấn, quy mô đất canh tác, dư nợ tín dụng, tỷ lệ phụ thuộc) đến xác suất thoát nghèo của hộ; tiến hành điều tra chuỗi thời gian dài hạn hơn để đánh giá nguy cơ tái nghèo sau khi thoát nghèo.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học các ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế, Xã hội học; cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo, cán bộ khuyến nông, ban quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia cấp xã và huyện tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao: Khung bảng hỏi khảo sát hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phương pháp phân tích điều kiện sản xuất nông hộ gắn với quỹ đất canh tác; số liệu thực tế về thực trạng sử dụng sai mục đích nguồn vốn vay chính sách tại vùng sâu, vùng xa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ hộ nghèo tại xã Thiện Long biến động như thế nào trong giai đoạn 2012 - 2014?

Trong giai đoạn 2012 - 2014, tỷ lệ hộ nghèo tại xã Thiện Long giảm liên tục qua các năm: từ 56,72% (308 hộ) năm 2012 xuống 50,00% (277 hộ) năm 2013 và còn 44,13% (248 hộ) năm 2014. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo có dấu hiệu chững lại; năm 2014 xã chỉ giảm được 29 hộ trên chỉ tiêu kế hoạch 34 hộ (đạt 85,29% kế hoạch), không hoàn thành mục tiêu đề ra do ảnh hưởng của thời tiết cực đoan và dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm.

2. Thôn nào có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tại xã Thiện Long vào năm 2014?

Thôn có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là Ca Siều với 63,24% (43 hộ nghèo trên tổng số 68 hộ), tiếp sau là thôn Bản Thàng với 62,06% (18 hộ nghèo trên 29 hộ) và thôn Khuổi Hẩu với 58,33% (49 hộ nghèo trên 84 hộ). Thôn có tỷ lệ nghèo thấp nhất xã là thôn Nà Lù với 25,19% (34 hộ nghèo trên 135 hộ).

3. Tình trạng sử dụng vốn vay chính sách của các hộ nghèo tại xã Thiện Long bộc lộ điểm yếu gì?

Trong số 23 hộ nghèo có vay vốn tín dụng chính sách (với mức vay bình quân 12,391 triệu đồng/hộ), có tới 39,13% số hộ sử dụng nguồn vốn sai mục đích đã cam kết trên hợp đồng tín dụng. Cụ thể, có 21,73% số hộ sử dụng tiền vay để mua sắm xe máy, 8,70% dùng để tổ chức đám cưới và 8,70% chi tiêu vào cờ bạc; chỉ có 60,87% số hộ đầu tư đúng mục đích vào trồng trọt và chăn nuôi.

4. Cơ cấu sử dụng đất đai của xã Thiện Long có đặc điểm gì ảnh hưởng đến sinh kế của người dân?

Xã có tổng diện tích tự nhiên là 5.486,04 ha nhưng cơ cấu đất rất bất hợp lý: Đất lâm nghiệp chiếm tới 61,78% (3.389,45 ha) song chủ yếu là rừng khoanh nuôi, tự nhiên nghèo kiệt mang lại thu nhập thấp; đất chưa sử dụng còn rất lớn, chiếm 21,75% (1.193,26 ha). Ngược lại, đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,85% (704,93 ha), trong đó đất lúa chỉ có 196,90 ha (3,59%), dẫn đến tình trạng bình quân đất cây hàng năm trên đầu khẩu của hộ nghèo rất eo hẹp (chỉ đạt 716,07 m²/khẩu).

5. Trình độ học vấn của các chủ hộ nghèo trong mẫu khảo sát đạt mức độ nào?

Qua khảo sát 40 hộ nghèo, 72,5% chủ hộ chỉ học hết Cấp I (tiểu học), 27,5% chủ hộ học đến Cấp II (trung học cơ sở), và hoàn toàn không có chủ hộ nghèo nào học đến Cấp III (trung học phổ thông), trung cấp, cao đẳng hay đại học. Trình độ văn hóa thấp là rào cản chính khiến người dân gặp khó khăn trong việc tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật và phòng chống dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Thị Chanh đã phản ánh toàn diện thực trạng nghèo đói tại xã Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 2014 thông qua hệ thống dữ liệu thứ cấp và khảo sát 60 hộ gia đình. Nghiên cứu đã bóc tách rõ nét những rào cản then chốt đối với tiến trình giảm nghèo tại địa phương, bao gồm điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng giao thông - thủy lợi lạc hậu, đất sản xuất nông nghiệp bình quân thấp, trình độ dân trí hạn chế và tình trạng sử dụng vốn vay sai mục đích. Các giải pháp do tác giả đề xuất bám sát thực tiễn địa bàn, cung cấp cơ sở tham khảo hữu ích cho việc xây dựng và thực thi chính sách giảm nghèo bền vững tại các xã vùng cao miền núi phía Bắc.