Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ SINH KẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. Tổng quan nghiên cứu ngoài nước đối với sinh kế người nghèo Phương pháp tiếp cận sinh kế là một trong các phương pháp tiếp cận nhằm không chỉ nâng cao mọi mặt đời sống hộ gia đình mà còn phát triển nông nghiệp, nông thôn chú trọng tới can thiệp hỗ trợ người nghèo theo xu hướng bền vững và hiệu quả. Người đi đầu về các nghiên cứu sinh kế đó là Robert Chambers trong tác phẩm của ông vào những năm 1980 (sau đó được phát triển và hoàn thiện hơn nữa bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990).
Về mặt khái niệm, “Sinh kế” biểu hiện thông qua các phương tiện, hoạt động, quyền lợi và tài sản mà con người kiếm sống để tồn tại trong xã hội. Các học giả khác nhau đã mô tả sinh kế theo những cách khác nhau; Chambers and Conway (1992) trong tác phẩm sinh kế bền vững đã định nghĩa sinh kế là những nhu yếu phẩm để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người. Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên [60] Đồng tình với quan điểm trên, Engberg (1996) trong bài viết về Lựa chọn các giải pháp sinh kế đã định nghĩa rằng sinh kế là một sự kết hợp giữa các chiến lược sinh tồn của cá nhân và hộ gia đình, được phát triển trong một khoảng thời gian nhất định nhằm huy động các nguồn vốn và cơ hội sẵn có.
Chiến lược sinh kế bao gồm một công việc không được trả lương, tích lũy và đầu tư, vay mượn, thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu mà con người cần có trong cuộc sống [77] Các học giả đã tìm ra mối liên hệ giữa sinh kế bền vững và nghèo đói. Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã thể hiện tính hữu ích trong việc can thiệp tới vấn đề nghèo đói. Moser (1993); Chathukulam Jose và K, Gireesan (2007) trong tác phẩm đánh giá tác động sinh kế và lập kế hoạch phát triển, cách tiếp cận sinh kế bền vững để xóa đói giảm nghèo là một công cụ hữu ích nhằm xóa bỏ những rủi ro và đảm bảo 12 tính bền vững trong quá trình xóa đói giảm nghèo. Các tác giả cũng nhấn mạnh, nhìn chung sinh kế bền vững là một phương tiện là một công cụ đắc lực nhằm đối phó với những cú sốc và căng thẳng trong cuộc sống của con người mà không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường [91, 61].
Các chiến lược sinh kế như vậy theo Sean (2018) cần được phát triển và mở rộng vừa hữu hình vừa vô hình và tạo ra lợi ích cho con người [106]. Mặc dù khẳng định được tầm quan trọng của sinh kế trong vấn đề xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên các tác giả ở đây vẫn chưa đưa ra được khung sinh kế bền vững cụ thể để tác động tới đói nghèo. Các học giả sau này đã đưa ra các quan điểm đa dạng hơn về khuôn khổ của phương pháp sinh kế bền vững. Dolli (2006) trong tác phẩm quản lý các nguồn tài nguyên bền vững, nhận xét rằng khung sinh kế bền vững rất hữu ích trong việc liên kết các yếu tố vĩ mô với thực tế cuộc sống hàng ngày của con người.
Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng. Nó có thể sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại [75]. Cụ thể là: - Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác hoạ mối liên hệ giữa những thành phần này. - Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng.
- Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố ảnh hưởng tới sinh kế. Sau này, một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện trong đó đi đầu là tổ chức DFID (2000). Phương pháp tiếp cận sinh kế đã được phát triển và hoàn thiện ở các nước phát triển trên thế giới, dựa trên khuôn khổ cam kết hỗ trợ của Bộ phát triển quốc tế Anh [73] về “Những chính sách và hành động cho việc xúc tiến các loại hình sinh kế bền vững”. Đây là một trong ba mục tiêu mà DFDI đã đặt ra nhằm đạt được những mục đích chung về xoá đói giảm nghèo.
Theo bảng đánh giá hướng dẫn về sinh kế bền vững, khái niệm sinh kế của DFID (1999) đã đưa ra: “Một sinh kế bền vững có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn vốn và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”. Theo khái niệm sinh kế nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn 13 vốn của con người. Đó là Nguồn vốn tự nhiên (1); (2) Nguồn vốn vật chất; Nguồn vốn con người (3); Nguồn vốn tài chính (4) và; Nguồn vốn xã hội (5) [72]. Đồng tình với khái niệm này, trong tác phẩm về Giới, tài sản và phát triển chương trình sinh kế bền vững, Meinzen-Dick et al, (2011) nhấn mạnh những nguồn vốn này tạo ra khả năng tiếp cận, kiểm soát và sở hữu các tài sản sinh kế sản xuất như đất đai, lao động, tài chính và vốn xã hội tạo điều kiện cho con người tạo ra kết quả sinh kế vững chắc và hiệu quả.
Tài sản có tác động xây dựng đến an ninh sinh kế, nó tác động đến sinh kế thông qua các kênh khác nhau. Tài sản có thể tác động trực tiếp đến an sinh con người thông qua việc gia tăng và trao quyền; Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình lựa chọn các chiến lược sinh kế khác nhau; Cung cấp một mạng lưới an toàn chống lại các cú sốc; và Củng cố mối quan hệ và vị thế các thành viên trong gia đình cũng như trong cộng đồng [88]. Hơn nữa các nghiên cứu cũng cho thấy 5 nguồn vốn trên không chỉ thể hiện trạng thái hiện tại mà nó còn cần được xem xét đánh giá ở dạng tiềm năng. Chính vì vậy việc đánh giá nhằm hỗ trợ và phát triển sinh kế cần phải được xem xét trong sự tác động với các hoạt động hỗ trợ được thực hiện bởi những cán bộ chuyên môn (như các hoạt động CTXH) nhằm đánh giá, tạo cơ hội và phát huy những nguồn vốn này một cách tối đa từ đó đảm bảo sinh kế bền vững cho người nghèo.
Đối với người nghèo, các nghiên cứu của Arun A, Siri H, Shiming M, Lesia N (2014); Frank E (2004) bàn luận về xoá đói giảm nghèo và sinh kế ở 4 quốc gia Châu Phi và Sinh kế người nghèo… cũng như các kinh nghiệm trên thế giới cho thấy có 2 nguồn vốn rất quan trọng tác động và ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của sinh kế người nghèo. Đó là nguồn vốn con người và nguồn vốn tài chính. Trong bối cảnh nghèo đói hiện nay và theo cách tiếp cận bền vững thì con người luôn là yếu tố quan trọng nhất để giải quyết vấn đề của chính bản thân họ. Do đó việc đảm bảo nguồn vốn con người cả về chất lượng và số lượng là rất quan trọng để giảm nghèo hiệu quả.
Ngoài ra mặc dù tiếp cận theo quan điểm nghèo đa chiều thì có rất nhiều yếu tố nhưng rõ ràng yếu tố về mặt tài chính/tiền là nhân tố quyết định để đo lường về vấn đề nghèo đói [52, 79]. Tuy nhiên nhìn nhận một cách toàn diện thì tuỳ vào từng đặc điểm và hoàn cảnh cụ thể của người nghèo để xác định nguồn vốn nào là quan trọng nhất đối với họ. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước về công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo Cũng trong hội thảo khoa học kỷ niệm Ngày Quốc tế xóa đói giảm nghèo tại Đại học Queens dành cho sinh viên và nhân viên công tác xã hội, Sean Holland (2018) tiếp tục nhấn mạnh và phân tích các hoạt động hỗ trợ hiệu quả tới vấn đề nghèo đói nói chung. Cụ thể nghèo đói có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe tâm thần, suy giảm sức khỏe thể chất, lạm dụng chất gây nghiện, sao nhãng trẻ em, bạo lực gia đình và các vấn đề tội phạm khác.
Do đó tác giả đề xuất các hoạt động, phương pháp CTXH là phù hợp trong việc can thiệp hỗ trợ người nghèo đối phó lại các vấn đề xã hội trên. Cụ thể đó là các phương pháp công tác xã hội trong gia đình, CTXH với hỗ trợ và chăm sóc trẻ em; CTXH trong việc hỗ trợ người khuyết tật, sức khỏe tâm thần, nâng cao chất lượng giáo dục. Trong một nghiên cứu kế thừa nghiên cứu của mình, Kate và các cộng sự (2018) đã dựa trên kết quả của nghiên cứu trước về mối liên hệ giữa nghèo đói và việc bạo hành lạm dụng trẻ em để đề xuất thực nghiệm các hoạt động can thiệp nhằm hỗ trợ những nạn nhân là trẻ em bị bạo hành thông qua việc tác động vào gốc rễ của vấn đề chính là việc nghèo đói. Cụ thể, nghiên cứu đã dựa trên một nghiên cứu phương pháp hỗn hợp độc đáo về các can thiệp công tác xã hội nhằm can thiệp tới vấn đề nghèo đói.
Nghiên cứu đã chứng minh nghèo đói là một yếu tố chính góp phần vào nguy cơ gây hại cho trẻ em và các can thiệp của CTXH là rất hiệu quả để hỗ trợ gia đình thoát nghèo từ đó giảm thiểu được các hành vi bạo hành. Các can thiệp CTXH được đề xuất nhằm hỗ trợ các gia đình thoát nghèo ở đây là các hoạt động CTXH nhóm, quản lý trường hợp, biện hộ chính sách và truyền thông cộng đồng… Đây cũng là các cách tiếp cận mới đối với việc giảm tác hại mà trẻ em và gia đình phải đối mặt liên quan đến hậu quả của nghèo đói và thiếu thốn [84].