Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Công tác xã hội (mã số: 976 01 01) của nghiên cứu sinh Đặng Hữu Dũng, được bảo vệ năm 2023 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hà Thị Thư và TS. Nguyễn Hải Hữu, có tiêu đề: "Công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh".
Về tính cấp thiết, vấn đề xóa đói giảm nghèo là chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam, được thể chế hóa qua Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 (Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 06/01/2017) và giai đoạn 2021-2025. Trên phạm vi toàn cầu, theo các báo cáo của Liên hợp quốc và FAO, hiện còn khoảng 1,3 tỷ người sống trong cảnh nghèo đa chiều, trong đó suy dinh dưỡng và mất an ninh lương thực tác động tới 20% dân số châu Phi, 12% dân số châu Á và 42,5 triệu người tại Mỹ Latinh và Caribe. Tại Việt Nam, kết quả rà soát năm 2020 ghi nhận 761.322 hộ nghèo (716.920 hộ nghèo thu nhập và 44.402 hộ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản). Tỉnh Quảng Ninh dù có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và năm 2019 đã chi gần 600 tỷ đồng ngân sách cho nông thôn mới và giảm nghèo, song theo Báo cáo số 253/BC-LĐTBXH ngày 29/11/2019 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, toàn tỉnh vẫn còn 1.896 hộ nghèo (tỷ lệ 0,52%), gồm 483 hộ thành thị (0,20%) và 1.413 hộ nông thôn (1,19%), tập trung tại các địa bàn đặc thù như Ba Chẽ, Vân Đồn, Hạ Long. Việc triển khai Quyết định 32/2010/QĐ-TTg và Quyết định 112/QĐ-TTg về phát triển nghề công tác xã hội đặt ra yêu cầu phải can thiệp giảm nghèo bền vững thông qua sinh kế thay vì chỉ trợ cấp thụ động.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các can thiệp giảm nghèo tại Việt Nam từ trước đến nay phần lớn tiếp cận thuần túy dưới góc độ kinh tế, tập trung vào mô hình sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt và tăng thu nhập ngắn hạn. Thực tiễn thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu vận dụng chuyên ngành công tác xã hội để can thiệp đồng bộ vào các nguồn vốn sinh kế, đặc biệt là nguồn vốn con người và nguồn vốn xã hội.
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo, từ đó triển khai hoạt động thực nghiệm công tác xã hội nhóm và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả can thiệp sinh kế cho người nghèo tại tỉnh Quảng Ninh.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng hợp các tài liệu, thông tin đánh giá về các vấn đề lý luận liên quan tới sinh kế và hoạt động công tác xã hội hỗ trợ sinh kế người nghèo.
- Nghiên cứu, khảo sát thực trạng hoạt động công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo tại tỉnh Quảng Ninh.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo tại Quảng Ninh.
- Ứng dụng thực nghiệm phương pháp công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ sinh kế cho một nhóm người nghèo cụ thể có nhu cầu được hỗ trợ sinh kế.
- Tổng hợp kết quả nghiên cứu để đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội trong việc hỗ trợ sinh kế cho người nghèo ở Quảng Ninh.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Nguồn vốn sinh kế của người nghèo ở Quảng Ninh hiện nay đang như thế nào?
- Câu hỏi 2: Các hoạt động công tác xã hội hỗ trợ sinh kế cho người nghèo tại Quảng Ninh hiện nay đang được triển khai ở mức độ nào?
- Câu hỏi 3: Những yếu tố nào ảnh hưởng công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo ở Quảng Ninh?
- Câu hỏi 4: Việc ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm sẽ tăng hiệu quả hỗ trợ sinh kế cho người nghèo như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Hiện nay sinh kế người nghèo ở Quảng Ninh đang gặp phải một số vấn đề về nguồn vốn tài chính và nguồn vốn vật chất.
- Giả thuyết 2: Các hoạt động công tác xã hội đang dần chứng minh được hiệu quả trong việc hỗ trợ sinh kế người nghèo tại Quảng Ninh nhưng vẫn chưa thực sự chuyên nghiệp.
- Giả thuyết 3: Hoạt động công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo tại Quảng Ninh chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố như năng lực nhân viên công tác xã hội, chính sách và thực thi chính sách, đặc điểm người nghèo và cộng đồng xã hội.
- Giả thuyết 4: Phương pháp công tác xã hội nhóm sẽ giúp người nghèo nâng cao năng lực, huy động và sử dụng các nguồn vốn sinh kế hiệu quả hơn trong việc giảm nghèo bền vững.
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 hoạt động công tác xã hội cơ bản gồm tư vấn chính sách hỗ trợ sinh kế, biện hộ hỗ trợ sinh kế, vận động kết nối nguồn lực hỗ trợ sinh kế, và giáo dục nhóm hỗ trợ sinh kế.
- Phạm vi khách thể: Khách thể chính là chủ hộ nghèo; khách thể bổ trợ gồm cán bộ, nhân viên công tác xã hội, cộng tác viên công tác xã hội, cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng lãnh đạo phụ trách công tác giảm nghèo.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 3 địa bàn đại diện của tỉnh Quảng Ninh gồm huyện Ba Chẽ (địa bàn tỷ lệ hộ nghèo thấp theo phân nhóm khảo sát của tác giả), thành phố Hạ Long (địa bàn tỷ lệ hộ nghèo trung bình), và huyện Vân Đồn (địa bàn tỷ lệ hộ nghèo cao).
- Phạm vi thời gian: Sử dụng dữ liệu thống kê hộ nghèo năm 2019-2020 và các đợt khảo sát, thực nghiệm hoàn thành trong giai đoạn 2020-2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Về nghiên cứu ngoài nước đối với sinh kế người nghèo: Luận án điểm lại các công trình nền tảng khởi xướng bởi Robert Chambers (thập niên 1980), Chambers và Conway (1992) về khái niệm sinh kế bền vững với năng lực chống chịu rủi ro và các cú sốc. Engberg (1996) xem xét chiến lược sinh kế hộ gia đình qua việc kết hợp các nguồn lực và cơ hội. Moser (1993), Chathukulam và Gireesan (2007) phân tích đánh giá tác động sinh kế trong quy hoạch phát triển nhằm kiểm soát rủi ro môi trường. Sean (2018) nghiên cứu mở rộng các chiến lược sinh kế hữu hình và vô hình. Dolli (2006) làm rõ khung sinh kế bền vững kết nối bình diện vĩ mô với đời sống thường nhật. Đặc biệt, khuôn khổ sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999, 2000) chuẩn hóa mô hình 5 nguồn vốn (con người, tự nhiên, tài chính, vật chất, xã hội). Meinzen-Dick cùng cộng sự (2011) phân tích khía cạnh giới và quyền kiểm soát tài sản sinh kế. Các công trình của Arun, Siri, Shiming, Lesia (2014) và Frank Ellis (2004) tại các quốc gia châu Phi chỉ ra rằng vốn con người và vốn tài chính là hai yếu tố quyết định hàng đầu đối với sinh kế người nghèo.
Về nghiên cứu ngoài nước liên quan đến công tác xã hội hỗ trợ người nghèo: Sean Holland (2018) chỉ ra các hệ lụy xã hội của nghèo đói (sức khỏe tâm thần, lạm dụng chất, bạo lực gia đình) và định vị vai trò của công tác xã hội gia đình, trẻ em, khuyết tật. Kate cùng cộng sự (2018) áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp khẳng định công tác xã hội nhóm, quản lý trường hợp và biện hộ chính sách giúp giải quyết tận gốc nguyên nhân ngược đãi trẻ em do nghèo đói. Nairobi (2010) mô tả chức năng đánh giá rủi ro, phát triển cộng đồng và hành động xã hội của nhân viên công tác xã hội. Singh (2005) và Monica (2009) hệ thống hóa 4 chức năng công tác xã hội: phòng ngừa, can thiệp, phục hồi và phát triển. Michal, Idit, Menachem (2009) cùng Vicky (2001) nhấn mạnh sự cần thiết phải thay đổi nhận thức của người nghèo để xóa bỏ tâm lý tự ti, không muốn thoát nghèo. Cynthia (2007), Carol S. Macgowan, Charles Garvin, Barbara Muskat (2013), Sally, Stephen, Andy, Jorge Delva (2012) và Katrien, Griet, Rudi (2018) khẳng định tính ưu việt của phương pháp làm việc nhóm và tiếp cận dựa trên sự tham gia theo tiến trình thức tỉnh - suy nghĩ - hành động.
Về nghiên cứu trong nước đối với sinh kế người nghèo: Nguyễn Văn Toàn, Trương Tấn Quân, Trần Văn Quảng (2012) áp dụng khung DFID nghiên cứu tác động của Chương trình 135 tại Quảng Trị. Báo cáo của Sida (2003) và Lê Xuân Bá (2001) phân tích tình trạng nghèo đói và các giải pháp chiến lược tại Việt Nam. Tine (2015) nghiên cứu sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu cho người nghèo ít đất tại An Giang và Sóc Trăng. Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2012) xác lập mối quan hệ giữa sinh kế và 10 chỉ báo đo lường nghèo đa chiều. Trần Lệ Thị Bích Hồng (2018) khảo sát sinh kế hộ nghèo dân tộc thiểu số tại Võ Nhai (Thái Nguyên). Đào Thế Anh (2012) đề xuất kết hợp chuỗi giá trị và đa dạng hóa sinh kế. Đinh Đức Thuận cùng cộng sự (2005) phân tích sinh kế gắn với lâm nghiệp. Báo cáo nghèo đa chiều của UNDP (2018) đề cao giải pháp giảm nghèo dựa vào cộng đồng và tiếp cận chính sách chủ động.
Về nghiên cứu công tác xã hội hỗ trợ giảm nghèo trong nước: Trần Quế Anh (2017) nghiên cứu thực tiễn Nam Định; Hà Thị Thu Hường (2018) tiếp cận phát triển cộng đồng tại Đông Hưng (Thái Bình); Nguyễn Thị Hậu (2018) khảo sát vai trò thực thi chính sách tại phường Liên Mạc; Bùi Văn Dương (2014) đánh giá vai trò công tác xã hội tại Hải Phong (Hải Hậu, Nam Định); Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Việt Nga, Nguyễn Thanh Phương (2015) phân tích khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản; Lê Thị Thu Hằng (2016) nghiên cứu lồng ghép giới tại Quảng Bình; Nguyễn Trung Hải (2013) thử nghiệm mô hình giảm nghèo đô thị hóa tại Tây Tựu; Lê Kim Thắng (2016) và Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (2013) nghiên cứu giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số; Bùi Thị Xuân Mai (2010), Lê Văn Phú (2005) cùng tài liệu tập huấn của UNICEF (2016) hệ thống hóa giáo trình, kỹ năng và triết lý công tác xã hội; Lê Anh Vũ (2020) nghiên cứu công tác xã hội hỗ trợ sinh kế cho lao động Khmer nhập cư.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình trong nước chỉ dừng lại ở góc độ mô tả thực trạng kinh tế hoặc vai trò quản lý nhà nước; các nghiên cứu công tác xã hội chỉ đánh giá giảm nghèo chung chung hoặc nghiên cứu nhóm lao động di cư. Chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống thực trạng 5 nguồn vốn sinh kế của hộ nghèo gắn liền với 4 hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp, đồng thời thực hiện can thiệp thực nghiệm phương pháp công tác xã hội nhóm đối với sinh kế người nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và hệ thống khái niệm:
- Khái niệm hộ nghèo: Luận án áp dụng tiêu chuẩn tại Thông tư liên tịch số 07/2016/TTLT-BLĐTBXH-BKHĐT, xác định hộ nghèo dựa trên thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận 10 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản (nông thôn: thu nhập từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống, hoặc từ trên 700.000 đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số; thành thị: thu nhập từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống, hoặc từ trên 900.000 đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số).
- Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững: Sử dụng định nghĩa của DFID (1999) và Chambers & Conway (1992), xác định sinh kế là tập hợp các nguồn lực (vốn con người, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn tự nhiên) cùng các khả năng và hoạt động mà người nghèo thực thi để kiếm sống và đạt được mục tiêu an sinh.
- Khái niệm công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo: Là hoạt động chuyên nghiệp dựa trên nền tảng kiến thức, kỹ năng đặc thù nhằm trợ giúp người nghèo bảo đảm, nâng cao các nguồn vốn sinh kế, hòa nhập cộng đồng và ứng phó với các cú sốc rủi ro để thoát nghèo bền vững.
- Khái niệm công tác xã hội nhóm hỗ trợ sinh kế: Dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Lan (2013), là phương pháp tương tác nhóm giúp các thành viên chia sẻ mối quan tâm, nâng cao năng lực và liên kết các nguồn lực sinh kế.
- Khung lý thuyết vận dụng: Luận án sử dụng Thuyết sinh thái (Ecological Systems Theory) để nhìn nhận mối quan hệ đa tầng giữa người nghèo với môi trường sống; Thuyết nhận thức hành vi (Cognitive Behavioral Theory) nhằm giải thích và can thiệp thay đổi tư duy thụ động, tự ti của người nghèo; và Thuyết trao quyền (Empowerment Theory) nhằm khơi dậy nội lực, tạo cơ hội cho người nghèo làm chủ tiến trình giải quyết vấn đề.
- Cơ sở phương pháp luận: Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ("lấy dân làm gốc", người nghèo là trung tâm), kết hợp các giá trị và nguyên tắc đạo đức nghề công tác xã hội (tôn trọng phẩm giá, phát huy quyền tự quyết và sự tham gia).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích các văn bản chính sách, nghị quyết, thông tư, nghị định giảm nghèo và hồ sơ lưu trữ của nhân viên công tác xã hội tại các trung tâm và cơ sở bảo trợ xã hội.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi (định lượng): Quy mô tổng thể hộ nghèo của tỉnh Quảng Ninh tại thời điểm nghiên cứu là N = 1.896 hộ. Cỡ mẫu được xác định theo công thức Taro Yamane:
$$n = \frac{N}{1 + N(e)^2}$$
Với sai số cho phép $e = 0{,}05$ (độ tin cậy 95%), cỡ mẫu tính toán là $n = 330$ hộ nghèo (thực tế khảo sát đạt 335 phiếu). Địa bàn điều tra gồm 3 huyện/thành phố: Vân Đồn (địa bàn tỷ lệ nghèo cao, 150 hộ), TP Hạ Long (địa bàn tỷ lệ nghèo trung bình, 100 hộ), Ba Chẽ (địa bàn tỷ lệ nghèo thấp, 80 hộ). Tại mỗi địa phương chọn 3 xã/phường có tỷ lệ nghèo cao nhất, sau đó chọn ngẫu nhiên hộ nghèo theo bước nhảy $k = 1896 / 330 \approx 6$. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.
- Phương pháp phỏng vấn sâu (định tính): Thực hiện phỏng vấn 26 đối tượng, gồm 9 nhân viên công tác xã hội (2 cán bộ và 1 lãnh đạo mỗi huyện/thành phố), 6 cộng tác viên công tác xã hội (2 người mỗi địa bàn), 9 đại diện hộ gia đình nghèo (3 hộ mỗi địa bàn), và 2 cán bộ/lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn sâu 4 chuyên gia (3 giảng viên đại học chuyên ngành công tác xã hội và 1 cán bộ hoạch định chính sách giảm nghèo).
- Phương pháp thực nghiệm công tác xã hội nhóm: Tổ chức can thiệp thực nghiệm trên một nhóm người nghèo tại địa bàn nghiên cứu trong thời gian 3 tháng. Tần suất sinh hoạt: giai đoạn đầu 1 buổi/tuần, giai đoạn ổn định 2 tuần/buổi. Địa điểm sinh hoạt linh hoạt tại nhà văn hóa, nhà thành viên hoặc trung tâm công tác xã hội, do nhân viên công tác xã hội điều phối nhằm thúc đẩy tương tác, lập kế hoạch sản xuất và tương trợ vốn.
Nguồn tư liệu, dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo số 253/BC-LĐTBXH của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh, văn kiện chính sách giảm nghèo quốc gia và địa phương.
- Dữ liệu sơ cấp: 330-335 phiếu khảo sát chủ hộ nghèo, 26 biên bản phỏng vấn sâu, 4 biên bản phỏng vấn chuyên gia và nhật ký thực nghiệm tiến trình nhóm trong 3 tháng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành hai dòng nghiên cứu chính: tiếp cận lý thuyết sinh kế bền vững (Chambers & Conway, DFID) và tiếp cận thực hành công tác xã hội can thiệp đói nghèo (Singh, Sean Holland, Kate). Luận điểm chính của chương khẳng định rằng sinh kế không đơn thuần là giải quyết việc làm hay tăng thu nhập mà là hệ sinh thái các nguồn tài sản giúp người nghèo chống đỡ rủi ro. Các tác giả quốc tế đã chứng minh công tác xã hội có thể can thiệp sâu vào việc phục hồi chức năng xã hội và nâng cao năng lực cho người nghèo. Tại Việt Nam, đa số nghiên cứu tiếp cận giảm nghèo theo hướng chính sách kinh tế công, trong khi các công trình công tác xã hội chỉ mới phát triển trong những năm gần đây (Trần Quế Anh, Nguyễn Trung Hải, Lê Anh Vũ) và chưa có công trình nào đánh giá chuyên sâu vai trò của công tác xã hội đối với cả 5 nguồn vốn sinh kế tại một địa bàn đặc thù như Quảng Ninh. Đây là cơ sở xác lập khoảng trống khoa học cho luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận về công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo
Chương 2 xây dựng khung phân tích lý luận của đề tài. Tác giả làm rõ nội hàm của 5 nguồn vốn sinh kế:
- Vốn con người: Sức khỏe, tri thức, trình độ học vấn, kỹ năng lao động nghề nghiệp.
- Vốn xã hội: Mạng lưới quan hệ hàng xóm, bạn bè, tổ chức đoàn thể và sự tin cậy với chính quyền.
- Vốn vật chất: Cơ sở hạ tầng công cộng (điện, đường, trường, trạm) và tư liệu sản xuất, máy móc, nhà xưởng của hộ gia đình.
- Vốn tài chính: Nguồn tiền mặt, thu nhập định kỳ, tiền tiết kiệm và khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng ưu đãi.
- Vốn tự nhiên: Đất canh tác, nguồn nước, tài nguyên khoáng sản, thủy hải sản và môi trường sinh thái.
Chương này cũng chuẩn hóa 4 hoạt động công tác xã hội trọng tâm trong can thiệp sinh kế: (1) Tư vấn chính sách sinh kế (y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng, học nghề); (2) Biện hộ sinh kế (đại diện quyền lợi, xóa bỏ kỳ thị, bảo đảm công bằng trong thụ hưởng chính sách); (3) Vận động kết nối nguồn lực (nguồn lực vật chất, tài chính, tinh thần, nội lực địa phương); (4) Giáo dục nhóm (chia sẻ kiến thức, kỹ năng sản xuất, nâng cao nhận thức). Đồng thời, chương 2 chỉ ra 5 nhóm yếu tố chi phối hiệu quả can thiệp: cơ chế chính sách, năng lực nhân viên công tác xã hội, đặc điểm nhận thức của người nghèo, nguồn lực cộng đồng, và sự phối hợp của chính quyền địa phương.
Chương 3: Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo tại tỉnh Quảng Ninh
Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát định lượng (mẫu N = 330-335) và phỏng vấn sâu tại Ba Chẽ, Hạ Long, Vân Đồn.
Về thực trạng 5 nguồn vốn sinh kế: Người nghèo tỉnh Quảng Ninh thiếu hụt nghiêm trọng nguồn vốn tài chính và vốn vật chất. Thu nhập bình quân của các hộ ở mức rất thấp, nguồn thu chủ yếu bấp bênh từ lao động thời vụ; tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh hầu như không đáng kể. Vốn con người gặp rào cản lớn về trình độ học vấn và tay nghề chuyên môn; tần số đau ốm, bệnh tật cao làm suy giảm khả năng lao động. Vốn xã hội của người nghèo mang tính khép kín, giao tiếp chủ yếu giới hạn trong phạm vi người thân và hàng xóm, mức độ tương tác với nhân viên công tác xã hội và chính quyền còn thấp. Vốn tự nhiên (đất đai, rừng, mặt nước biển) chưa được khai thác hiệu quả do thiếu vốn đầu tư và kỹ thuật canh tác.
Về thực trạng 4 hoạt động công tác xã hội hỗ trợ sinh kế, số liệu mẫu tham gia và lý do không tiếp cận được tổng hợp như sau:
| Hoạt động công tác xã hội |
Cỡ mẫu tiếp cận / đánh giá hài lòng |
Cỡ mẫu không tiếp cận / lý do chưa thụ hưởng |
| Tư vấn chính sách |
$N_2 = 268$ hộ được tư vấn |
$N_1 = 67$ hộ không được tư vấn |
| Biện hộ |
$N_4 = 128$ hộ được biện hộ |
$N_3 = 207$ hộ chưa từng được biện hộ |
| Kết nối nguồn lực |
$N_6 = 277$ hộ được kết nối |
$N_5 = 58$ hộ chưa được kết nối |
| Giáo dục nhóm |
$N_8 = 82$ hộ tham gia |
$N_7 = 253$ hộ không tham gia |
Dữ liệu cho thấy hoạt động kết nối nguồn lực ($N_2=277$) và tư vấn chính sách ($N_2=268$) đạt tỷ lệ triển khai cao nhất, tập trung vào kết nối hỗ trợ vật chất, tiền mặt đột xuất và tư vấn chính sách vay vốn, y tế, nhà ở. Ngược lại, hoạt động biện hộ ($N_4=128$) và giáo dục nhóm ($N_8=82$) đạt tỷ lệ rất thấp; có tới 207 hộ chưa được biện hộ và 253 hộ không tham gia giáo dục nhóm do nhân viên công tác xã hội chưa triển khai đồng bộ và bản thân người nghèo còn e ngại, mặc cảm.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng xác nhận: Năng lực của đội ngũ cán bộ, cộng tác viên công tác xã hội tại Quảng Ninh còn hạn chế, phần lớn làm việc kiêm nhiệm, thiếu kỹ năng chuyên sâu; người nghèo có tâm lý trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp; sự phối hợp giữa chính quyền cơ sở với mạng lưới dịch vụ xã hội đôi lúc còn hình thức.
Chương 4: Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo tại tỉnh Quảng Ninh
Chương 4 mô tả tiến trình can thiệp thực nghiệm phương pháp công tác xã hội nhóm cho một nhóm hộ nghèo trong thời gian 3 tháng. Tiến trình bao gồm các bước: đánh giá nhu cầu, thành lập nhóm, xây dựng quy ước sinh hoạt, triển khai các buổi tương tác (tuần 1 buổi trong giai đoạn đầu, sau đó chuyển sang 2 tuần/buổi), lượng giá kết quả và kết thúc nhóm. Kết quả thực nghiệm khẳng định: phương pháp làm việc nhóm giúp các thành viên vượt qua mặc cảm, nâng cao nhận thức, chia sẻ kinh nghiệm sử dụng vốn vay, hỗ trợ nhau ngày công và từng bước chủ động lập kế hoạch kinh tế gia đình.
Từ kết quả nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng và thực nghiệm nhóm, luận án đưa ra hệ thống biện pháp:
- Nhóm biện pháp chung:
- Rà soát, hoàn thiện và truyền thông chính sách giảm nghèo đa chiều tại địa phương.
- Nâng cao nhận thức xã hội, xóa bỏ kỳ thị và tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào công tác giảm nghèo.
- Nhóm biện pháp cụ thể:
- Nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng thực hành cho nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội cấp cơ sở.
- Chuẩn hóa và mở rộng quy trình ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ sinh kế người nghèo.
- Tăng cường hoạt động biện hộ chính sách và tư vấn chuyên sâu về quyền lợi sinh kế cho hộ nghèo.
- Đẩy mạnh kết nối, huy động nguồn lực nội sinh tại cộng đồng kết hợp với nguồn tài trợ bên ngoài nhằm hỗ trợ công cụ sản xuất, chuyển giao kỹ thuật thay vì chỉ cấp phát tiền mặt tiêu dùng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống khái niệm chuyên ngành về công tác xã hội đối với người nghèo và công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo.
- Làm rõ cơ chế vận dụng các lý thuyết chuyên ngành (Thuyết sinh thái, Thuyết nhận thức hành vi, Thuyết trao quyền) và khung 5 nguồn vốn sinh kế của DFID vào thực hành công tác xã hội giảm nghèo tại Việt Nam, khắc phục quan điểm xem sinh kế đơn thuần là tạo việc làm và thu nhập ngắn hạn.
- Đóng góp cơ sở khoa học về việc vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm như một công cụ nâng cao năng lực và phát huy nội lực sinh kế cho người nghèo.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng toàn diện về thực trạng 5 nguồn vốn sinh kế và 4 hoạt động công tác xã hội tại 3 vùng sinh thái đại diện của tỉnh Quảng Ninh (Vân Đồn, Ba Chẽ, Hạ Long).
- Khẳng định tính khả thi và hiệu quả của mô hình thực nghiệm công tác xã hội nhóm can thiệp sinh kế kéo dài 3 tháng tại cơ sở.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị có căn cứ thực nghiệm gửi tới các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh) nhằm hoàn thiện mạng lưới dịch vụ xã hội và nâng cao tính chuyên nghiệp của nghề công tác xã hội trong công tác giảm nghèo bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát không gian chỉ tập trung tại 3 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Ninh (Ba Chẽ, Hạ Long, Vân Đồn), chưa bao quát hết tất cả các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và hải đảo xa xôi của tỉnh cũng như các tỉnh thành khác trên toàn quốc.
- Thời gian can thiệp thực nghiệm phương pháp công tác xã hội nhóm chỉ diễn ra trong vòng 3 tháng trên một nhóm khách thể có quy mô giới hạn, chưa đánh giá được đầy đủ tính bền vững lâu dài của các nguồn vốn sinh kế sau khi nhóm kết thúc chu kỳ hỗ trợ.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát so sánh hoạt động công tác xã hội hỗ trợ sinh kế giữa các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội và vùng sinh thái khác nhau.
- Triển khai các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) dài hạn từ 1 đến 3 năm sau can thiệp thực nghiệm nhóm để lượng giá mức độ tích lũy tài sản và khả năng chống chịu rủi ro của hộ nghèo.
- Đi sâu nghiên cứu can thiệp sinh kế cho các nhóm nghèo đặc thù như người nghèo khuyết tật, người nghèo vùng lõi dân tộc thiểu số hoặc hộ nghèo chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu.
Giá trị tham khảo
Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật:
- Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Phát triển cộng đồng và Quản lý công.
- Phần khung lý thuyết phân tích 5 nguồn vốn sinh kế kết hợp 4 hoạt động nghiệp vụ công tác xã hội (Chương 2) và quy trình thực nghiệm nhóm 3 tháng (Chương 4) có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy thực hành can thiệp giảm nghèo.
Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách:
- Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng cho các cấp lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các sở ngành liên quan trong việc xây dựng kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.
- Cung cấp cơ sở định hướng bố trí ngân sách phát triển mạng lưới trung tâm công tác xã hội và đội ngũ cộng tác viên xã hội cơ sở.
Đối với nhân viên thực hành công tác xã hội:
- Cung cấp tài liệu hướng dẫn kỹ năng cho nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh và cán bộ giảm nghèo cấp xã/phường trong việc triển khai quy trình tư vấn chính sách, kỹ thuật biện hộ quyền lợi, kết nối nguồn lực sinh kế và điều phối sinh hoạt nhóm người nghèo.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án sử dụng công thức nào để tính toán cỡ mẫu khảo sát định lượng và phân bổ tại các địa bàn ra sao?
Luận án áp dụng công thức Taro Yamane $n = N / [1 + N(e)^2]$ dựa trên quy mô tổng thể $N = 1.896$ hộ nghèo của tỉnh Quảng Ninh với sai số tiêu chuẩn $e = 0{,}05$ (độ tin cậy 95%), xác định cỡ mẫu $n = 330$ hộ nghèo (mẫu thực tế khảo sát đạt 335 hộ). Cỡ mẫu được phân bổ theo 3 địa bàn đại diện: Huyện Vân Đồn (150 hộ, đại diện tỷ lệ nghèo cao), Thành phố Hạ Long (100 hộ, đại diện tỷ lệ nghèo trung bình), và Huyện Ba Chẽ (80 hộ, đại diện tỷ lệ nghèo thấp).
-
Bốn hoạt động công tác xã hội cơ bản được luận án khảo sát và đánh giá trong hỗ trợ sinh kế là gì?
Bốn hoạt động bao gồm: (1) Hoạt động tư vấn chính sách hỗ trợ sinh kế; (2) Hoạt động biện hộ hỗ trợ sinh kế; (3) Hoạt động vận động kết nối nguồn lực hỗ trợ sinh kế; và (4) Hoạt động giáo dục nhóm hỗ trợ sinh kế.
-
Khung phân tích nguồn vốn sinh kế của luận án bao gồm những nguồn vốn nào?
Dựa trên mô hình sinh kế bền vững của DFID (1999) và Chambers & Conway (1992), luận án phân tích sinh kế của người nghèo dựa trên 5 nguồn vốn: Nguồn vốn con người, Nguồn vốn xã hội, Nguồn vốn vật chất, Nguồn vốn tài chính, và Nguồn vốn tự nhiên.
-
Quy mô và cơ cấu người tham gia phỏng vấn sâu trong nghiên cứu định tính được tổ chức như thế nào?
Tổng số người tham gia phỏng vấn sâu là 26 người, gồm: 9 nhân viên công tác xã hội (mỗi địa bàn gồm 2 cán bộ và 1 lãnh đạo), 6 cộng tác viên công tác xã hội (mỗi địa bàn 2 người), 9 đại diện gia đình hộ nghèo (mỗi địa bàn 3 người), và 2 cán bộ/lãnh đạo phụ trách công tác giảm nghèo cấp tỉnh. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn 4 chuyên gia (3 giảng viên đại học ngành công tác xã hội và 1 cán bộ hoạch định chính sách).
-
Mô hình thực nghiệm công tác xã hội nhóm hỗ trợ sinh kế được tác giả triển khai với thời gian và tần suất như thế nào?
Thực nghiệm công tác xã hội nhóm được triển khai trong thời gian 3 tháng đối với một nhóm người nghèo có nhu cầu sinh kế tại địa phương. Về tần suất, nhóm sinh hoạt cố định 1 buổi/tuần trong giai đoạn đầu để ổn định tổ chức và xây dựng quy ước; khi nhóm đi vào hoạt động ổn định, thời gian sinh hoạt giãn cách thành 2 tuần/buổi. Địa điểm sinh hoạt được lựa chọn linh hoạt tại nhà văn hóa, nhà thành viên hoặc trung tâm công tác xã hội.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đặng Hữu Dũng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về công tác xã hội hỗ trợ sinh kế đối với người nghèo dựa trên thực tiễn tỉnh Quảng Ninh. Tác giả đã kết hợp khung phân tích 5 nguồn vốn sinh kế với 4 hoạt động can thiệp nghiệp vụ công tác xã hội thông qua các phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng và thực nghiệm nhóm kéo dài 3 tháng. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn vốn vật chất, tài chính cũng như những hạn chế trong hoạt động biện hộ và giáo dục nhóm tại cơ sở. Luận án cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ góp phần hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên công tác xã hội và thúc đẩy giảm nghèo bền vững tại địa phương.