Tính cấp thiết của đề tài Công tác xã hội là một ngành khoa học ứng dụng có lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam do biến cố của lịch sử, sự hình thành và phát triển của Công tác xã hội có nhiều thăng trầm, vì vậy, những năm gần đây ngành mới đƣợc sự công nhận của Chính phủ thông qua đề án 32 “Phát triển nghề công tác xã hội”. Công tác xã hội với mục đích hƣớng tới sự trợ giúp con ngƣời trong cuộc sống nhất là những nhóm đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng bằng các mô hình can thiệp từ cá nhân, đến nhóm và cộng đồng. Trong xã hội ngày nay, đối tƣợng trợ giúp của công tác xã hội tƣơng đối đa dạng. Nhiều đối tƣợng yếu thế đang rất cần sự giúp đỡ, động viên, chia sẻ của tất cả cộng đồng cũng nhƣ của công tác xã hội. Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là một trong những đối tƣợng yếu thế dễ bị tổn thƣơng và cần sự trợ giúp của công tác xã hội. Công tác xã hội có sứ mệnh vận dụng linh hoạt những kiến thức và kỹ năng để tiếp cận đối tƣợng, lập kế hoạch trợ giúp và giúp những phụ nữ nghèo đơn thân tiếp cận với các cơ sở dịch vụ hỗ trợ một cách bền vững. Giá trị nhân văn và kinh tế khi PNNĐT có việc làm dƣờng nhƣ không thể phủ nhận bởi nó góp phần đảm bảo cuộc sống cải thiện vị thế, và tăng cƣờng tính trách nhiệm xã hội cho PNNĐT. Bình đẳng giới luôn là một trong những mục tiêu chiến lƣợc đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trên toàn thế giới. Tình trạng bất bình đẳng giới hiện nay vẫn còn tồn tại ở hầu khắp các quốc gia điều này làm ảnh hƣởng không nhỏ đến sự phát triển chung của mỗi quốc gia nói riêng và khu vực nói chung. Vấn nạn bất bình đẳng giới chủ yếu diễn ra đối với phụ nữ, họ là những ngƣời phải 1 gánh chịu nhiều thiệt thòi, tổn thƣơng từ những quan niệm, định kiến bất công từ xã hội xƣa và nay Đối với Việt Nam, trong những năm qua Đảng và Nhà nƣớc thực hiện nhiều bƣớc đột phá về hành động và nhận thức, từ khía cạnh chính sách, pháp luật đến thực tiễn và đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới. Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong số những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây. Điểm nổi bật trong việc bảo đảm quyền lợi về giới ở Việt Nam là việc hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về bình đẳng giới.Thành quả đem lại nhằm tạo điều kiện và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ có thể tự tin phát triển trên tất cả các lĩnh vực, hƣớng tới giải phóng ngƣời phụ nữ; góp phần xây dựng một đất nƣớc công bằng, văn minh. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhìn nhận lại một cách thẳng thắn về những hạn chế, những tồn tại trong quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Một trong những minh chứng cụ thể nhất, đó là chúng ta đã nỗ lực, đã làm rất nhiều nhƣng vẫn còn đó những mảnh đời, những câu chuyện rơi nƣớc mắt trong thực tế về những ngƣời phụ nữ đơn thân. Họ không chỉ chịu gánh nặng về tài chính - kinh tế, về sức khỏe mà họ đã và đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, tủi cực trong cuộc sống, nhất là những khó khăn, áp lực về tâm lý và cơ hội tìm kiếm việc làm của họ cũng gặp không ít những khó khăn,…Vì vậy, họ rất cần nhận đƣợc sự hỗ trợ, sự cảm thông, chia sẻ từ phía gia đình, cộng đồng và xã hội. Ngày nay quan niệm về ngƣời phụ nữ đơn thân không còn quá khắt khe nhƣ trƣớc đây, song vẫn còn đó rất nhiều những khó khăn mà họ phải đối mặt. Đây là đối tƣợng rất cần sự quan tâm, trợ giúp của cộng đồng, xã hội để có thể vƣợt lên khó khăn, vƣợt lên chính họ, hòa nhập cộng đồng. Trách nhiệm ấy không chỉ thuộc về xã hội hay một tổ chức nào đó, mà nó đã trở thành một trong 2 những lĩnh vực mà ngành Công tác xã hội (CTXH) cần quan tâm để có những giải pháp can thiệp, hỗ trợ hiệu và có tính phát triển bền vững nhất. Từ những vấn đề nêu trên cho thấy những khó khăn mà những ngƣời phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ cần đƣợc nhìn nhận và quan tâm đúng mực, cần đƣợc nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học và bài bản để từ đó có thể giúp họ có cuộc sống tốt hơn. Công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ lại càng có ý nghĩa và giá trị sâu sắc vì nó tạo cho họ có nhiều cơ hội phát triển và khẳng định đƣợc vị thế của mình trong xã hội. Trong thời điểm hiện nay, dƣới tác động của khủng hoảng kinh tế, để đáp ứng nhu cầu việc làm cho mọi công dân trong xã hội đã là một vấn đề lớn và một bộ phận không nhỏ là phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ lại càng bức thiết hơn. Công tác dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ nói chung và phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ nói riêng tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội còn nhiều khó khăn: Phần lớn họ chƣa có công ăn việc làm, đời sống khó khăn và đa phần thuộc hộ nghèo. Tỷ lệ phụ nữ nghèo đơn thân không có việc làm, trình độ học vấn còn hạn hẹp, nhiều ngƣời còn tự ti, mặc cảm chƣa hòa nhập với cộng đồng. Luận văn "Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” nhằmđềra các giải pháp thúc đẩy hoạt động công tác xã hội đối với vấn đề việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội; hƣớng đến giúp họ có đủ sức mạnh, chủ động, tự tin, hội nhập- hòa nhập, tự giúp bản thân, tự lập cuộc sống, tự khẳng định bản thân, định hƣớng nghề nghiệp và tự tìm đƣợc việc làm. 3 Tại địa bàn huyện Quốc Oai đã nổi lên các nhu cầu, mô hình việc làm cho Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ và đang rất quan tâm cũng nhƣ cần có một nghiên cứu về vấn đề việc làm của Phụ nữ để thúc đẩy, phát triển hoạt động hỗ trợ Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn tốt hơn. Từ thực tiễn và lý luận nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”để làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình là hoàn toàn thiết thực và cần thiết, phù hợp với bối cảnh chiến lƣợc và chính sách phát triển của địa phƣơng 2. Tình hình nghiên cứuliên quan đến đề tài 2. Một số tài liệu trên thế giới * Nghiên cứu về phụ nữ đơn thân Thứ nhất, các nghiên cứu về xu hƣớng lựa chọn sống đơn thân của phụ nữ đƣợc bàn đến bởi Edin (2000); Belanger (1996); Phinney (1998); Dales (2014). Thứ hai, nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu xã hội của phụ nữ đơn thân đƣợc đề cập bởi Shattuck và Kreider (2013); Ann Berrington (2014); Ciabattari (2005). Thứ ba, nghiên cứu về đời sống tâm lý và định kiến xã hội qua công trình của Nguyễn Thị Khoa (1997); Lê Thi (2001); Robinson và Werblow (2013). Thứ tƣ, nghiên cứu về đời sống kinh tế và chính sách xã hội của nhóm phụ nữ đơn thân/phụ nữ làm mẹ đơn thân qua các tác giả Lê Thi (1996),(2002); Zarina và Kamil (2012); Wang, Parker, và Taylor (2013). * Về việc làm cho phụ nữ đơn thân Các tác giả tập trung vào mảng sinh kế cho ngƣời phụ nữ đơn thân, Phần này đƣợc chia thành nhiều chủ đề nghiên cứu. Thứ nhất là các nghiên cứu về phƣơng pháp tiếp cận sinh kế với các tác giả DFID (1999); Kollmair và Gamper (2002); Ashley và Carney (1999); Krantz (2001). Thứ hai, nghiên cứu về ứng 4 dụng của khung sinh kế bền vững trong thực tiễn qua các tác giả Solesbury (2003); Chowdhury (2014). Thứ ba, nghiên cứu về loại hình và phƣơng thức chuyển đổi sinh kế với các tác giả Nguyễn Duy Thắng, 2007; Nguyễn Văn Sửu (2014); Dƣơng Chí Thiện và Vũ Mạnh Lợi (2014); Nguyễn Xuân Mai và Nguyễn Duy Thắng (2011). Thứ tƣ, nghiên cứu về sinh kế của phụ nữ và phụ nữ làm mẹ đơn thân đƣợc thực hiện bởi các tác giả Nguyễn Thị Vân Anh (2006) ; Collin và Mayer (2006); Nguyễn Thị Thanh Tâm (2008). * Phụ nữ và việc làm cũng sớm được đề cập trong Công ước và Pháp luật quy định chung của Quốc tế: Về lĩnh vực chính trị: Tƣơng ứng với điều 7,8 của Công ƣớc CEDAW và điều 25 của công ƣớc về các quyền dân sự và chính trị 1966 thì điều 63 Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi năm 2001) quy định: “Công dân, nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.” Nhƣ vậy, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất đã ghi nhận một cách cụ thể về quyền trong lĩnh vực chính trị của phụ nữ. Về lĩnh vực lao động, việc làm: Tƣơng ứng với điều 11 CEDAW, điều 14 của công ƣớc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 điều 109 Bộ luật Lao động quy định : “nhà nƣớc bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng một mặt với nam giới…” Về lĩnh vực giáo dục: Trên cơ sở nội dung của điều 10 công ƣớc CEDAW điều 63 Hiến pháp 92 quy định: phụ nữ và nam giới bình đẳng với nam giới về phƣơng diện văn hóa, xã hội. Cụ thể hóa quy định trên của Hiến pháp điều 14 luật bình đẳng giới năm 2006 quy định nam nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ, lựa chọn ngành nghề học tập, đào tạo tiếp cận và hƣởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo. Một số nghiên cứu ở Việt Nam Hiện tƣợng bà mẹ đơn thân là một hiện tƣợng không mới trong xã hội nhƣng phát triển mạnh và thu hút sự quan tâm của những nhà nghiên cứu thì chỉ mới khoảng gần chục năm gần đây. Những nghiên cứu đầu tiên về hiện tƣợng này chủ yếu là của những nhà nghiên cứu xã hội học chuyên nghiên cứu về phụ nữ.