Chương 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU Tổng quan cung cấp một cái nhìn phổ quát về van dé nghiên cứu: Các cách tiếp cận và nhận diện về lao động trẻ em; thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến lao động trẻ em; các nghiên cứu có liên quan về hoạt động công tác xã hội trong phòng ngừa lao động trẻ em trên Thế giới và Việt Nam.1 Những nghiên cứu về lao động trẻ em Lao động trẻ em (LĐTE) là vấn đề đã được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu của các tổ chức, ban ngành và nhiều học giả thuộc những lĩnh vực khác nhau.1 Những quan điểm tiếp cận và nhận diện về lao động tré em Việc lạm dụng LĐTE đã có từ lâu trong quá khứ của hầu hết các quốc gia. Ngay từ thời trung cô, trẻ em đã bị coi như người lớn thu nhỏ với sự phát triển đầy đủ và có thé thực hiện được các hoạt động lao động thé chất đáp ứng những tiêu chuẩn giống như người lớn. Từ rất sớm, khoảng 6 — 7 tuổi, trẻ đã được gửi đi học VIỆC VỚI Các nghề như mộc, trồng trọt, dịch vụ, dệt và nhiều hơn thế nữa [Aries, 1962]. Thời kỳ công nghiệp vào đầu những năm 1800 đã chứng kiến tỉ lệ cao nhất sự tham gia làm việc của LĐTE và độ tuổi mà các em tham gia là thấp nhất [Horrell va Humphries, 1995].
Tuy nhiên cho đến nay, trong cách nhận diện về LĐTE van còn những quan điểm chưa thống nhất do những hợp phan trong tên gọi của nó “tré em”, “lao động và việc lam” chưa được xác định nhất quán giữa các quốc gia, các nền văn hoá hay theo từng bối cảnh [Alec Fyfe, 1993], [Augendra Bhukuth, 2008]. Có những quan điểm tiếp cận dưới góc độ lay khoảng thời gian của một đứa trẻ, trong một độ tuôi nhất định nào đó, thay vì được học hành, vui chơi giải trí thì chúng phải tham gia làm việc (trừ những công việc nhà vì không trả công) có nghĩa là LĐTE, tức là bao gồm bất kỳ hình thức làm việc nào ngoài phạm vi gia đình. Những quan điểm này khi đưa ra đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều khi được biện dẫn ví dụ cho thấy trong nhiều bối cảnh những đứa trẻ phải tham gia vào công việc phụ giúp gia đình, không được trả công nhưng tính chất công việc chiếm phần lớn 17 thời gian của trẻ hoặc ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ nên sẽ vẫn bị coi là LDTE (lao động gan nợ, lao động giúp việc gia đình. Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm khác nhìn dưới góc độ kinh tế cho rang chỉ xem xét LDTE với những hình thức việc làm đầy đủ thời gian diễn ra trong các hoạt động kinh tế với việc xác lập các mối quan hệ lao động rõ ràng.
Quan điểm này cũng không nhận được nhiều ý kiến đồng tình vì cho rằng đã loại bỏ một số lượng không nhỏ những trường hợp trẻ em làm việc ban thời gian, không có hợp đồng lao động, nhưng loại hình công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (VD: ban dâm. Edmonds đã tóm tắt định nghĩa về LDTE ở 26 quốc gia dựa trên các báo cáo quốc gia của họ. Trong đó, có ba quốc gia là Bangladesh, Belize và Mông Cổ có định nghĩa về LDTE phù hợp với định nghĩa của ILO. Các nước còn lại sử dụng những định nghĩa đã được sửa đôi.
Ví dụ, Kenya, Tanzania, Nicaragua, Pakistan và Philippines sử dung thuật ngữ “tré em tham gia hoạt động kinh tế”. Cách gọi này cho thấy sự không phù hợp khi không phân tách được những trường hợp trẻ em tham gia làm việc đúng quy định pháp luật với những trường hợp lạm dụng sức lao động của trẻ em. Bởi lẽ, nếu hoạt động làm việc phù hợp với lứa tudi, không lam ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ thì việc tham gia hoạt động kinh tế sẽ giúp trẻ rèn luyện được tinh thần yêu lao động. Trong các báo cáo quốc gia của Argentina, Costa Rica, Ethiopia, Gambia, Honduras, Malawi và Nam Phi đưa ra định nghĩa LDTE bao gồm cả việc trẻ em tham gia vào các công việc gia đình.
Uganda, Thổ Nhĩ Kỳ, Campuchia và Sri Lanka tránh hoan toan trong việc sử dụng thuật ngữ “Jao động trẻ em”. Chile, Ecuador, El Salvador, Ghana, Guyana và Guatemala xác định LDTE dựa trên số giờ, điều kiện làm việc va giới hạn độ tuổi. Trong khi đó Namibia lại xem xét các điều kiện gây hại cho trẻ em trong các công việc cụ thể như làm việc trong các nhà máy, ham mỏ và thị trường để xác định LDTE [Edmonds, 2009]. Sự khác biệt trong định nghĩa về LĐTE đến từ những khác biệt về mục tiêu, mức độ ưu tiên, quyền lợi và bối cảnh chính trị - xã hội của từng quốc gia trong việc giải quyét vân đê nay.
18 Việc nhận diện LDTE có ảnh hưởng trực tiếp đến việc ước lượng về quy mô của LDTE. Chính từ việc chưa thống nhất được cách xác định, nên kết quả của các cuộc khảo sát luôn phải găn liền với những tiêu chí đưa ra khi nhận diện về khách thể được điều tra. Tuy theo mục đích, đặc điểm trong từng cuộc nghiên cứu sẽ có sự lựa chọn việc áp dụng theo tiêu chuẩn nào để nhận diện và đánh giá về LĐTE. Tuy nhiên, cũng có những quốc gia thực hiện những khảo sát về LĐTE nhưng không cần đưa ra những câu hỏi trực diện hoặc thao tác hoá làm rõ cách hiểu LĐTE trong khảo sát - điển hình như Ấn Độ.
Có hai nguồn dữ liệu chính được sử dụng cho những nghiên cứu về LĐTE tại An Độ là Điều tra dân số và Khảo sát việc làm quốc gia. Cả hai cuộc khảo sát này không có câu hỏi trực tiếp nào về LĐTE, thay vào đó họ cung cấp những dữ liệu về việc làm và thất nghiệp. Từ việc nhìn vào tinh trạng việc làm và độ tuôi của người được hỏi để tạo ra một biến số xác định về tình trạng LDTE [Barsa Priyadarsinee Sahoo, 2020].2 Những nghiên cứu về thực trang lao động tré em Dù còn chưa thống nhất trong các cách nhận diện, nhưng cơ sở đữ liệu thực tế đang cho thấy Thế giới nói chung và nhiều quốc gia, khu vực nói riêng vẫn đang phải đối mặt với tỉ lệ LĐTE đáng báo động. Theo ILO, ở thời điểm 6/2016, có 168 triệu LĐTE trên thế giới, trong đó Tiểu vùng Sahara của châu Phi có tỷ lệ LĐTE cao nhất (với 28% trẻ em trong độ tuôi từ 5-14), sau đó đến các vùng Trung Đông và Bắc Phi; Đông A và Thai Bình Dương (mỗi vùng đều có ty lệ 10%), Mỹ La tinh và Caribê (9%).
Gần một nửa trong số LĐTE (tức khoảng 73 triệu trẻ) có hoàn cảnh khó khăn và đang phải làm những công việc nguy hiểm trực tiếp gây nguy hại cho sức khoẻ, sự an toàn và phát triển tinh thần của trẻ. Số trẻ em làm việc, bao gồm LĐTE và các hình thức làm việc khác của trẻ em là 218 triệu. Những lĩnh vực chủ yếu tập trung LĐTE là nông nghiệp (70,9%), địch vụ (17,1%) và công nghiệp (11,9%) [ILO, 2017]. Như vậy, tình từ năm 2000 đến năm 2016, số lượng LĐTE trên toàn cầu đã giảm 94 triệu.
Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 xảy ra đang đe dọa làm đảo ngược xu hướng này. Chỉ tính riêng năm 2020 đã có tới 60 triệu người dự kiên sẽ rơi vào cảnh nghẻo đói, và điêu đó sẽ thúc đây các gia đình phải gửi trẻ em 19 đi làm. Ước tính rằng khi tỷ lệ nghèo đói tăng 1% thì tình trạng LĐTE sẽ tăng ít nhất 0,7% [Sarkar K (2020), Navpreet Kaur and Roger W Byard (2021)]. Một báo cáo chung của ILO và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc đưa ra vào tháng 6/2021 sử dụng kết quả tông hợp từ hơn 100 cuộc khảo sát quốc gia về hộ gia đình, chiếm 2/3 dân số trẻ em từ 5 -17 tuổi của thé giới.
Kết quả cho thấy, lần đầu tiên trong hai thập kỷ, những nỗ lực giảm thiểu LĐTE trên toàn thế giới đang bị ngưng trệ, thậm chí nếu các quốc gia không thực hiện ngay những biện pháp cần thiết để phòng ngừa, can thiệp thì sẽ có thêm khoảng 8,9 triệu LDTE mới xuất hiện vào cuối năm 2022 do tác động từ đại dich Covid-19 làm gia tăng đói nghéo. Cũng theo báo cáo nay, đến tháng 6/2021, con số LĐTE trên toàn thé giới là 160 triệu trẻ (63 triệu bé gái, 97 triệu bé trai) — chiếm gần 1/10 dân số trẻ em toàn cầu. Gần một nửa trong số đó đang phải làm các công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm gây tổn hại tới sức khỏe, sự an toàn va tinh thần của trẻ (khoảng 79 triệu trẻ, tăng thêm 6,5 triệu so với năm 2016). Báo cáo cũng dé cập đến tình hình LĐTE tại các khu vực trên thế giới, theo đó LĐTE vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất tại Tiêu vùng Sahara của châu Phi (với 24%), cao gấp 3 lần so với nhóm khu vực thứ hai là ở Trung Đông và Bắc Phi.
Nhóm khu vực còn lại gồm Đông Á, Thái Bình Dương, Mỹ La tinh và Caribê, tỉ lệ LĐTE đã giảm liên tục từ năm 2008 đến nay [ILO, UNICEE, 2021]. Ngoài những nghiên cứu về tình hình LĐTE chung trên thế giới, các tài liệu cũng cung cấp những dữ liệu quan trọng mô tả về thực trạng LĐTE tại một số quốc gia hiện nay. Theo UNICEF, An Đó là quốc gia có số LĐTE dưới 14 tuổi nhiều nhất thé giới. Báo cáo của ILO (2015) cho thấy, số lao động An Độ từ 5 đến 17 tuổi là 5,7 triệu em.
Còn UNICEF đưa ra con số là 10,2 triệu - nhiều hơn bất cứ nơi nào khác trên thé giới. Riêng tỷ lệ LĐTE trong độ tuổi từ 5 - 9 đã tăng lên gần 25% với các công việc nặng nhọc như: thu nhặt phế liệu, bán hàng rong trên đường phố, làm nông nghiệp [UNICEF, 2019]. Trong các cuộc điều tra của chính phủ An Độ cho thấy có khoảng 11 triệu LĐTE, trong đó 70% là ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, theo quan sát từ các tổ chức phi chính phủ tại nước này, con số LĐTE thực tế phải lên tới 40 triệu [Rajendra N Srivanstava, 2019].
Tai Trung Quốc, có khoảng 7,7% trẻ em 20 trong độ tuổi từ 10-15 tuổi đang lao động, mặc dù độ tuổi lao động hợp pháp của Trung Quốc là 16 tuổi. Vùng Tây Bắc và Thanh Hải - Tây Tạng là khu vực kém phát triển nhất và có ty lệ LĐTE cao nhất. Trong khi ở các khu vực khác như ở miền Đông và miền Trung Trung Quốc tiên tiến hơn thì vấn đề về LĐTE ít hơn [Henry Burkert, 2019].