Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu và đưa ra các giải pháp xây dựng trường học xanh tại trường tiểu học Đội Cấn thành phố Thái Nguyên" do sinh viên Đặng Thị Hồng thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Đỗ Thị Lan (Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2015). Đề tài thuộc chuyên ngành Khoa học môi trường, tập trung vào việc nghiên cứu thực trạng cảnh quan môi trường học đường và đề xuất các giải pháp quản lý, giáo dục bảo vệ môi trường đối với bậc tiểu học.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả đặt ra xuất phát từ thực trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do hoạt động sinh hoạt và sản xuất gia tăng, đe dọa sự phát triển bền vững của xã hội. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc giáo dục nhận thức và kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ em ở lứa tuổi 6–10 tuổi – giai đoạn hình thành nhân cách và nếp sống – là nhiệm vụ trọng tâm. Trường học được xác định là môi trường giáo dục nền tảng, nơi các kiến thức sinh thái được chuyển hóa thành hành vi thực tế như giữ gìn vệ sinh, phân loại rác thải, trồng và chăm sóc cây xanh. Tại Trường Tiểu học Đội Cấn (thành phố Thái Nguyên), việc xây dựng môi trường sư phạm đạt tiêu chuẩn "Xanh - Sạch - Đẹp - An toàn" gắn liền với nhu cầu thực tiễn của một trường chuẩn quốc gia có quy mô học sinh đông nhưng diện tích sân vườn và cơ sở hạ tầng chịu áp lực lớn.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể gồm ba nhiệm vụ:

  1. Tìm hiểu về chương trình học của học sinh Trường Tiểu học Đội Cấn;
  2. Tìm hiểu nhận thức về bảo vệ môi trường của học sinh và phụ huynh có con em học tại trường;
  3. Đưa ra các giải pháp xây dựng trường học xanh thân thiện với học sinh cũng như với môi trường, từ đó nâng cao nhận thức và sự hiểu biết bảo vệ môi trường cho học sinh.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất, môi trường sư phạm, chương trình giáo dục lồng ghép và các nhóm đối tượng trực tiếp tại Trường Tiểu học Đội Cấn (học sinh từ khối 2 đến khối 5, cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh học sinh).

Phạm vi không gian nghiên cứu được giới hạn tại khuôn viên Trường Tiểu học Đội Cấn, địa chỉ tại tổ 25, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi thời gian thực hiện nghiên cứu thực địa, khảo sát số liệu và lập phương án giải pháp kéo dài từ ngày 16 tháng 8 năm 2014 đến ngày 18 tháng 12 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên các định nghĩa học thuật và cơ sở pháp lý chuyên ngành về khoa học môi trường và quản lý giáo dục:

  • Định nghĩa môi trường theo UNESCO và Điều 3 Chương 1 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 (Luật số 55/2014/QH13), cùng các khái niệm liên quan về chức năng môi trường, ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường.
  • Khái niệm "giáo dục môi trường xanh" theo Nguyễn Thị Hồng Bốn (2011), định nghĩa đây là tổng hợp các biện pháp nhằm duy trì, sử dụng hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng môi trường tự nhiên, tạo sự hài hòa giữa con người và tự nhiên.
  • Tiêu chí trường, lớp "xanh, sạch, đẹp, an toàn" theo Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Các khái niệm quốc tế về trường học xanh: Định nghĩa của Cộng đồng trường học xanh Cobos’s E&E (tập trung vào hiệu quả năng lượng, tính bền vững tài chính và sinh thái); Hội đồng đồng những người lập kế hoạch thiết bị giáo dục - CEFPI (trường học thân thiện, tiết kiệm năng lượng, quan tâm sức khỏe); Hội hợp tác vì chất lượng cao của trường học - CHPS (giảm chi phí vận hành, cải thiện môi trường học tập, bảo tồn điện và nước).
  • Cơ sở thực tiễn quốc tế và trong nước: Mô hình Green School bằng tre tại Badung, Bali, Indonesia xây dựng năm 2007 do John và Cynthia Hardy cùng công ty PT Bambu thiết kế; mô hình Green School ứng dụng rác tái chế của nhóm sinh viên Trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh; chương trình thu gom tái chế vỏ hộp giấy tại 200 trường tiểu học do Sở GD&ĐT TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Tetra Pak; kinh nghiệm xây dựng trường chuẩn tại Trường Tiểu học Thị trấn Gôi (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định).
  • Hệ thống văn bản quy chuẩn: Chỉ thị 18/2008/CT-UBND tỉnh Thái Nguyên; Thông tư liên tịch số 18/2011/TTLT-BGDĐT-BYT về đánh giá y tế trường học; Thông tư số 67/2011/TT-BGDĐT về tiêu chuẩn đánh giá trường tiểu học; Quyết định số 32/2005/QĐ-BGD&ĐT về quy chế công nhận trường chuẩn quốc gia; Quyết định số 1263/QĐ-SGD&ĐT, Hướng dẫn số 968/HD-SGD&ĐT và Kế hoạch số 1118/KH-SGD&ĐT của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp tổng hợp, kế thừa: Thu thập tài liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê hàng năm của Trường Tiểu học Đội Cấn, số liệu dân sinh phường Hoàng Văn Thụ, giáo trình và văn bản quản lý nhà nước.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát gồm 2 phần (thông tin chung và kiến thức môi trường). Thu thập số liệu sơ cấp thông qua chọn mẫu ngẫu nhiên: phát 40 phiếu khảo sát học sinh phân bổ đều qua 4 khối (từ khối 2 đến khối 5) và 30 phiếu khảo sát phụ huynh học sinh.
  • Phương pháp xây dựng mô hình dựa trên bộ tiêu chí: Vận dụng khung 5 nội dung lớn bao gồm 19 tiêu chí chi tiết của phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" để đối chiếu thực trạng và thiết kế mô hình trường học xanh.
  • Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Tổng hợp dữ liệu điều tra, phân tích tỷ lệ phần trăm và vẽ biểu đồ minh họa thông qua phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng phần

Khóa luận được cấu trúc thành 5 phần chính, phản ánh đầy đủ tiến trình nghiên cứu từ cơ sở lý luận, phương pháp khảo sát đến hiện trạng thực tế và các nhóm giải pháp can thiệp.

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của vấn đề bảo vệ môi trường toàn cầu và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hình thành "ý thức hệ" môi trường cho học sinh tiểu học. Nội dung phân định rõ mục đích nghiên cứu, 3 mục tiêu cụ thể, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc đóng góp tài liệu tham khảo cho việc nhân rộng mô hình trường học xanh tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Phần này hệ thống hóa toàn bộ cơ sở khoa học về môi trường, các khái niệm ô nhiễm, suy thoái và giáo dục môi trường xanh. Tác giả khảo cứu kinh nghiệm phát triển trường học xanh trên thế giới (điển hình là công trình Green School tại Bali, Indonesia rộng 7.542 m2 ứng dụng năng lượng mặt trời, vi thủy điện và nguyên liệu tre) và tại Việt Nam (mô hình của Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, chương trình của công ty Tetra Pak, mô hình xã hội hóa tại Trường Tiểu học Thị trấn Gôi). Đồng thời, tác giả rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên liên quan đến phong trào trường học thân thiện và kiểm định chất lượng giáo dục.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương nêu chi tiết đối tượng nghiên cứu (cơ sở vật chất, chương trình học, học sinh, giáo viên), phạm vi không gian (Trường Tiểu học Đội Cấn) và thời gian khảo sát (16/8/2014 – 18/12/2014). Tác giả mô tả chi tiết các phương pháp nghiên cứu, quy trình chọn mẫu điều tra (40 học sinh khối 2–5, 30 phụ huynh) và đặc biệt thuyết minh chi tiết khung tiêu chí xây dựng trường học xanh gồm 5 nội dung lớn và 19 tiêu chí cụ thể:

  • Nội dung 1: Xây dựng trường học an toàn, trường, lớp xanh, sạch, đẹp (Tiêu chí 1 đến Tiêu chí 6).
  • Nội dung 2: Dạy và học có hiệu quả, phù hợp đặc điểm lứa tuổi (Tiêu chí 7 đến Tiêu chí 10).
  • Nội dung 3: Tổ chức các hoạt động tập thể (Tiêu chí 11 đến Tiêu chí 13).
  • Nội dung 4: Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh (Tiêu chí 14 đến Tiêu chí 17).
  • Nội dung 5: Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa địa phương (Tiêu chí 18 và Tiêu chí 19).

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Đây là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh kết quả thu thập số liệu, khảo sát thực tế và các đề xuất giải pháp:

Hiện trạng Trường Tiểu học Đội Cấn: Trường được tách từ trường PTCS Đội Cấn năm 1988, tọa lạc trên diện tích khuôn viên 6.850 m2 tại tổ 25 phường Hoàng Văn Thụ (địa bàn có 3.620 hộ với 13.564 nhân khẩu). Năm học 2014–2015, trường có 41 lớp học; đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên gồm 60 người (59 nữ, 1 nam). Cơ cấu gồm 3 cán bộ quản lý (1 Hiệu trưởng, 2 Phó Hiệu trưởng), 51 giáo viên (46 giáo viên văn hóa 9 môn, 1 giáo viên Thể dục, 1 Tổng phụ trách Đội, 2 giáo viên Mĩ thuật, 2 giáo viên Âm nhạc) và 5 nhân viên (1 y tế, 1 kế toán, 2 thiết bị - thư viện, 1 văn thư). Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn là 100%, trong đó trên chuẩn đạt 94,44% (51/54 giáo viên theo bảng thống kê chuyên môn). Cơ sở vật chất gồm 4 dãy nhà 2 tầng với 34 phòng học kiên cố và 1 phòng cấp 4; diện tích sân chơi, bãi tập chiếm trên 31% tổng diện tích mặt bằng.

Hạng mục cơ cấu / Hoạt động Số liệu thực tế ghi nhận
Tổng diện tích khuôn viên 6.850 m2
Tỷ lệ diện tích sân chơi, sân tập Trên 31% diện tích mặt bằng
Số lượng phòng học 35 phòng (34 phòng kiên cố 2 tầng, 1 phòng cấp 4)
Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên 60 người (Nữ: 59, Nam: 1)
Trình độ giáo viên 100% đạt chuẩn; 94,44% trên chuẩn (51/54 giáo viên)
Quy mô học sinh (năm học 2013–2014) 1.761 học sinh (HSG: 1.510 em - 85,7%; HSTT: 193 em - 11%)
Số lớp và học sinh bán trú 24/41 lớp; 904 học sinh bán trú (Khối 3 chiếm 260 em)
Nguồn cung cấp thực phẩm rau an toàn Khoa Nông học (ĐH Nông Lâm Thái Nguyên) & Xóm Cậy, Huống Thượng
Hệ thống xử lý nước uống Hệ thống lọc RO 6 module, khử khuẩn đèn UV và máy Ozone
Số lượng cây xanh hiện có 31 cây bóng mát; 38 cây cảnh trong chậu

Công tác bán trú và vệ sinh dinh dưỡng: Trường tổ chức bán trú cho 904 học sinh thuộc 24 lớp. Bếp ăn vận hành theo quy trình một chiều, kiểm thực 3 bước, lưu mẫu thức ăn 24 giờ. Nhà trường hợp đồng cung cấp rau an toàn với Khoa Nông học – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và vùng sản xuất rau an toàn tại Xóm Cậy, xã Huống Thượng (huyện Đồng Hỷ). Hệ thống nước uống sử dụng máy lọc tinh khiết RO gồm 6 module công nghiệp nhập khẩu, kết hợp xử lý khử trùng bằng đèn cực tím (UV) và máy Ozone trước khi dẫn tới các vòi cấp nước phòng học.

Khảo sát việc tích hợp bảo vệ môi trường trong sách giáo khoa: Khóa luận thống kê chi tiết các bài học tích hợp nội dung môi trường từ lớp 2 đến lớp 5:

  • Lớp 2: Tích hợp trong môn Tự nhiên và Xã hội (Bài 13, 17, 24, 25, 26, 28, 30), Tập vẽ (Bài 4, 30), Tiếng Việt (bài đọc "Sông Hương", "Tiếng chổi tre").
  • Lớp 3: Môn Tự nhiên và Xã hội (Bài 30, 32, 36, 37, 38, 40, các bài 41–49 về động vật, 56, 57, 59), Mĩ thuật (Bài 1, 2, 11), Tiếng Việt (Bài 28).
  • Lớp 4: Môn Khoa học (các bài 1, 2, 3, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 32, 39, 40, 44, 57, 61, 63, 64, 66, 67), Lịch sử và Địa lí (các bài thuộc miền núi, đồng bằng, duyên hải, Biển Đông), Đạo đức ("Bảo vệ môi trường"), Kĩ thuật (Chương II), Âm nhạc, Mĩ thuật.
  • Lớp 5: Môn Đạo đức (Bài 3, 12, 14, 18), Hát nhạc (Bài 4 "Hãy giữ cho em bầu trời xanh", Bài 9), Địa lí (Bài 2, 3, 4, 5, 6), Khoa học (các bài 36–40 về động/thực vật và các bài 62–68 về môi trường, tài nguyên, tác động của con người).

Kết quả điều tra thực địa theo các tiêu chí:

  • Cây xanh: Trường có 31 cây bóng mát (phượng, bàng, bằng lăng, dừa nước) và 38 cây cảnh (hoa giấy, ngâu). Tỷ lệ bóng mát còn thấp do mật độ bê tông hóa sân trường cao.
  • Công trình vệ sinh: 100% sử dụng hệ thống tự hoại riêng biệt giữa giáo viên và học sinh (chia khu nam/nữ). Tuy nhiên, mật độ học sinh đông dẫn đến tình trạng bốc mùi cục bộ vào những ngày nắng nóng, khoảng cách ngăn cách giữa khu vệ sinh và bếp ăn còn nhỏ.
  • Thói quen làm việc nhóm của học sinh: Khảo sát 40 học sinh cho thấy 32 em (80%) có thói quen làm việc theo nhóm và 8 em (20%) không làm việc theo nhóm.
Nội dung điều tra phụ huynh học sinh (Tổng số: 30 phiếu) Ý kiến trả lời Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Xây dựng hoạt động khuyến học trong bảo vệ môi trường Nên 24 80,0%
Không nên 1 3,3%
Không quan tâm 5 16,7%
Học sinh kết hợp kiến thức BVMT từ sách vở về nhà Có 29 96,7% (trong văn bản ghi 97%)
Không 1 3,3% (trong văn bản ghi 3%)
Nhận định về sự cần thiết xây dựng trường học xanh Cần thiết 20 66,7%
Bình thường 10 33,3%

Đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng trường học xanh:

  • Ban hành quy trình quản lý: Đề xuất thành lập Ban chỉ đạo phong trào "Xanh - Sạch - Đẹp và An toàn" do một Phó Hiệu trưởng làm trưởng ban, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên (phụ trách cây bóng mát, hoa, cỏ, kỹ thuật cắt tỉa tán, kiểm tra nền nếp).
  • Cải tạo cơ sở vật chất và cảnh quan: Tận dụng không gian ban công lắp đặt chậu hoa treo (dạ yến thảo, thu hải đường, hoa dừa cạn, tử quân tử) hoặc trồng hoa leo (hồng leo, hoa giấy) nhằm giảm diện tích chiếm dụng mặt đất; lắp đặt vách ngăn và rèm cây quanh khu vệ sinh; cấm triệt để phương tiện xe cơ giới đi lại trong sân trường trong giờ hoạt động của học sinh.
  • Quản lý chất thải: Triển khai phân loại rác thải tại nguồn thành 3 nhóm riêng biệt (nhóm 1: giấy vụn; nhóm 2: nhựa, ni lông, kim loại; nhóm 3: lá cây, vỏ trái cây hữu cơ); khơi thông hệ thống cống rãnh ngầm, đậy nắp an toàn.
  • Mô hình giáo dục ngoại khóa: Xây dựng "Thư viện xanh" tạo không gian đọc sách mở; thành lập Câu lạc bộ tuyên truyền bảo vệ môi trường; hướng dẫn học sinh làm đồ dùng, đồ chơi từ vật liệu tái chế (chai nhựa, ống hút, vỏ hộp sữa chua, xốp phế liệu); huy động học sinh tham gia chăm sóc, tưới cây vào mùa nắng; duy trì chấm điểm thi đua vệ sinh hằng ngày thông qua Đội Cờ đỏ / Sao đỏ.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm lược kết quả nghiên cứu hiện trạng môi trường của nhà trường, khẳng định tính khả thi của mô hình trường học xanh và đề xuất các kiến nghị nâng cấp cơ sở vật chất trường học gửi đến các cấp quản lý giáo dục địa phương.

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Khóa luận đã làm rõ bức tranh toàn diện về điều kiện hạ tầng, công tác tổ chức bán trú, mức độ tích hợp nội dung giáo dục sinh thái và thực trạng nhận thức của các bên liên quan tại một trường tiểu học thuộc đô thị loại I miền núi phía Bắc:

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng cụ thể: Phản ánh cấu trúc cơ sở vật chất trên khuôn viên 6.850 m2 với 35 phòng học, 31 cây bóng mát, 38 chậu cây cảnh, hệ thống lọc nước RO 6 module và mô hình quản lý bán trú 904 suất ăn qua kiểm thực 3 bước.
  • Chỉ ra mức độ tích hợp giáo dục môi trường trong chương trình hiện hành: Đề tài đã lập danh mục thống kê đối chiếu toàn bộ các bài học mang nội dung môi trường ở 4 khối lớp (khối 2, 3, 4, 5). Tác giả chỉ ra rằng nội dung bảo vệ môi trường mới chỉ phân tán, lồng ghép ở tỷ lượng nhỏ trong các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Đạo đức, Mĩ thuật, Âm nhạc mà chưa có một học phần giáo dục sinh thái độc lập.
  • Đánh giá thực trạng nhận thức xã hội: Kết quả phỏng vấn 30 phụ huynh khẳng định sự đồng thuận cao (80% tán thành lập quỹ hỗ trợ môi trường, 66,7% khẳng định mô hình trường học xanh là cấp thiết). Tuy nhiên, số liệu cũng vạch rõ hạn chế thực tế: 97% học sinh có thực hành giữ gìn vệ sinh ở nhà nhưng chủ yếu ở trạng thái thụ động, chỉ thực hiện khi có người lớn nhắc nhở; tại trường còn hiện tượng xả rác bừa bãi và chưa chủ động giữ vệ sinh khu vực vệ sinh chung.
  • Đề xuất giải pháp mang tính khả thi: Tác giả không đề xuất các can thiệp kết cấu tốn kém mà hướng vào các giải pháp phù hợp với hiện trạng một trường đã xây dựng kiên cố: mô hình hóa 3 nhóm phân loại rác, phương thức phủ xanh ban công bằng giàn treo và cây leo, tận dụng phế liệu làm đồ dùng học tập, và cơ chế quản trị thông qua Ban chỉ đạo do Phó Hiệu trưởng phụ trách kết hợp giám sát chéo từ Đội Sao đỏ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số điểm hạn chế gắn liền với điều kiện thực tế của địa bàn và phạm vi đề tài:

  • Hạn chế về mẫu điều tra: Quy mô khảo sát còn khiêm tốn (40 học sinh được chia đều cho 4 khối lớp và 30 phụ huynh học sinh), thời gian điều tra thực địa giới hạn trong 4 tháng (từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014) tại một điểm trường duy nhất, do đó tính đại diện thống kê cho toàn thành phố Thái Nguyên chưa cao.
  • Hạn chế về điều kiện hạ tầng: Tác giả thừa nhận khó khăn lớn của nhà trường là tình trạng bê tông hóa sân trường làm giảm diện tích trồng cây xanh trực tiếp xuống đất; cơ sở vật chất phòng học chưa đáp ứng hết nhu cầu bán trú của toàn bộ 41 lớp (mới đạt 24 lớp với 904 học sinh); khu vực nhà vệ sinh vào thời điểm nắng nóng vẫn phát sinh mùi hôi khó xử lý triệt để do lượng người sử dụng quá tải so với diện tích.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Mở rộng phạm vi điều tra đối chứng sang các trường tiểu học thuộc khu vực nông thôn hoặc các phường lân cận; nghiên cứu thử nghiệm áp dụng mô hình phân loại rác thải 3 nhóm và đánh giá mức độ giảm thiểu phát thải thực tế trong khuôn viên trường học sau can thiệp; xây dựng tài liệu ngoại khóa chuyên đề về môi trường độc lập nhằm bổ trợ cho chương trình chính khóa.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng nghiên cứu và cơ sở giáo dục:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý môi trường, Sư phạm Tiểu học và Giáo dục học: Cung cấp phương pháp tiếp cận điều tra thực địa, bảng hỏi khảo sát nhận thức học đường, phương pháp đối chiếu hệ thống tiêu chí trường chuẩn với các chỉ tiêu sinh thái.
  • Cán bộ quản lý trường tiểu học (Ban Giám hiệu, Tổng phụ trách Đội): Tham khảo mô hình phân công tổ chức Ban chỉ đạo "Xanh - Sạch - Đẹp và An toàn", phương thức vận hành bếp ăn bán trú an toàn một chiều kết hợp kiểm thực 3 bước, quy chuẩn lắp đặt hệ thống lọc nước tinh khiết RO có đèn UV - máy Ozone, và cách thức phát động phong tràu tái chế rác thải học đường.
  • Tài liệu phục vụ quy hoạch cảnh quan học đường: Cung cấp gợi ý về các loại cây xanh phù hợp với không gian sân trường hạn chế về đất hở như cây treo ban công (hoa dừa, thu hải đường, dạ yến thảo) và giàn hoa leo tạo bóng mát.

Câu hỏi thường gặp

1. Trường Tiểu học Đội Cấn có quy mô khuôn viên, phòng học và đội ngũ nhân sự như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu? Theo số liệu khóa luận công bố, trường có tổng diện tích khuôn viên 6.850 m2, sân chơi và bãi tập chiếm trên 31% diện tích. Trường có 35 phòng học (34 phòng kiên cố 2 tầng, 1 phòng cấp 4). Năm học 2014–2015, trường có 41 lớp học; tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên là 60 người (59 nữ, 1 nam), gồm 3 cán bộ quản lý, 51 giáo viên và 5 nhân viên. 100% giáo viên đạt chuẩn chuyên môn, trong đó 94,44% đạt trình độ trên chuẩn.

2. Công tác tổ chức và quản lý bán trú của nhà trường được thực hiện ra sao? Năm học 2013–2014, trường tổ chức bán trú cho 904 học sinh thuộc 24 lớp. Bếp ăn được thiết kế theo quy trình một chiều, dụng cụ bằng inox và nhôm chất lượng cao, thực hiện kiểm thực 3 bước và lưu mẫu thức ăn 24 giờ. Nhà trường ký hợp đồng cung ứng rau an toàn với Cửa hàng điều phối sản phẩm rau an toàn của Khoa Nông học (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và vùng sản xuất rau an toàn tại Xóm Cậy, xã Huống Thượng (huyện Đồng Hỷ). Nước uống cho học sinh được xử lý qua hệ thống lọc tinh khiết RO nhập khẩu gồm 6 module tích hợp đèn UV diệt khuẩn và máy Ozone.

3. Khảo sát thực tế số lượng cây xanh tại trường ghi nhận những số liệu nào? Tại thời điểm khảo sát, khuôn viên trường có 31 cây bóng mát phân bổ trên toàn bộ diện tích (gồm các loài: phượng, bàng, bằng lăng, dừa nước) và 38 chậu cây cảnh (gồm hoa giấy, ngâu). Tác giả nhận định mật độ bóng mát này còn thấp do sân trường phần lớn đã bị bê tông hóa.

4. Kết quả khảo sát nhận thức của phụ huynh học sinh về các hoạt động môi trường của nhà trường đạt tỷ lệ ra sao? Kết quả thu thập từ 30 phiếu điều tra phụ huynh cho thấy: 80% (24 người) tán thành việc xây dựng hoạt động khuyến học về bảo vệ môi trường; 97% (29 người) xác nhận con em có vận dụng kiến thức bảo vệ môi trường tại nhà (tuy nhiên hành vi còn mang tính thụ động, chỉ làm khi có người lớn nhắc nhở); 66,7% (20 người) đánh giá việc xây dựng mô hình trường học xanh là rất cần thiết, 33,3% (10 người) coi đây là vấn đề bình thường.

5. Tác giả đề xuất phương án phân loại và xử lý rác thải trong trường học như thế nào? Tác giả đề xuất triển khai phân loại rác thải tại nguồn thành 3 nhóm rõ rệt: nhóm giấy vụn; nhóm rác vô cơ khó phân hủy (nhựa, ni lông, kim loại); và nhóm rác hữu cơ (lá cây, vỏ trái cây). Rác thải tái chế được tận dụng cho các hoạt động ngoại khóa làm đồ dùng, đồ chơi (xe đạp từ ống hút, con công từ vỏ hộp sữa chua và xốp, đồ chơi từ vỏ chai nhựa). Đồng thời, hệ thống cống rãnh thoát nước thải phải được xử lý ngầm, có nắp đậy an toàn để ngăn mùi hôi và diệt trừ nơi sinh sản của ruồi muỗi.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đặng Thị Hồng đã hoàn thành việc khảo sát toàn diện hiện trạng cảnh quan, cơ sở vật chất, hoạt động bán trú và nội dung giáo dục bảo vệ môi trường tại Trường Tiểu học Đội Cấn, thành phố Thái Nguyên. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chuẩn xác về quy mô sư phạm, thực trạng tích hợp sách giáo khoa và mức độ nhận thức của học sinh, phụ huynh học sinh. Hệ thống giải pháp được đề xuất tập trung vào tính ứng dụng thực tiễn cao, kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức quản trị nhà trường, cải tạo cảnh quan thân thiện và giáo dục kỹ năng xanh cho học sinh tiểu học.