Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 đã dẫn đến việc thu hồi 366,44 nghìn ha đất nông nghiệp, chiếm khoảng 3,89% tổng diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng trên cả nước. Tại tỉnh Hải Dương – địa bàn thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với tổng diện tích tự nhiên 163.429 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 66,6% – việc chuyển đổi quỹ đất để xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu đô thị mới diễn ra với tốc độ rất nhanh. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và là nguồn sinh kế cốt lõi của nông dân; do đó, việc thu hồi đất đã tạo ra cú sốc lớn đối với cơ cấu việc làm và an sinh xã hội nông thôn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa tốc độ thu hồi đất phục vụ phát triển hạ tầng công nghiệp với khả năng chuyển đổi nghề nghiệp của lao động nông nghiệp. Mục tiêu cụ thể của công trình là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng lao động - việc làm của nông dân bị thu hồi đất tại Hải Dương từ năm 2001 đến năm 2010, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu bao quát 12 đơn vị hành chính của tỉnh Hải Dương, tập trung vào các địa bàn trọng điểm về thu hồi đất như thành phố Hải Dương, huyện Cẩm Giàng, Nam Sách, Kim Thành. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài được lượng hóa qua các chỉ tiêu cụ thể: hướng tới giảm tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn xuống dưới 5%, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 45%, đồng thời ổn định thu nhập cho hàng chục nghìn hộ dân bị ảnh hưởng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý luận Kinh tế Chính trị Mác - Lênin về vai trò của tư liệu sản xuất, quy luật phân công lao động xã hội và lý thuyết giá trị thặng dư trong quá trình công nghiệp hóa. Cơ sở lý luận được củng cố bằng luận điểm kinh điển của William Petty: đất đai là cha và lao động là mẹ của mọi của cải vật chất. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp khung phân tích của Tổ chức Lao động Quốc tế về việc làm, thiếu việc làm và thất nghiệp, kết hợp với các định chế pháp lý tại Điều 13 Bộ luật Lao động năm 1994 và Khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003.

Mô hình nghiên cứu phân tích trạng thái việc làm dựa trên tương quan giữa chi phí tư liệu sản xuất và chi phí sức lao động, biểu diễn qua phương trình kết hợp nguồn lực sản xuất. Các khái niệm then chốt bao gồm: việc làm hợp pháp tạo ra thu nhập; người có đủ việc làm với tiêu chuẩn từ 35 giờ làm việc trở lên mỗi tuần; người thiếu việc làm làm việc dưới 35 giờ mỗi tuần nhưng có nhu cầu và sẵn sàng làm thêm; và thu hồi đất theo quyết định hành chính của Nhà nước phục vụ lợi ích quốc gia và phát triển kinh tế. Nghiên cứu chỉ ra rằng hơn 80% các vụ khiếu nại, tố cáo phát sinh trong giai đoạn khảo sát bắt nguồn từ những bất cập trong thu hồi đất và đền bù sinh kế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng, bao gồm dữ liệu thứ cấp từ Niên giám Thống kê tỉnh Hải Dương giai đoạn 2000 - 2009, các báo cáo chuyên đề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cùng các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát chọn mẫu 360 hộ nông dân tại các điểm nóng thu hồi đất, điển hình như xã Lai Vu thuộc huyện Kim Thành và các địa bàn lân cận.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên 3 nhóm đối tượng: hộ bị thu hồi dưới 30% diện tích đất canh tác, hộ bị thu hồi từ 30% đến 70%, và hộ bị thu hồi trên 70% đất sản xuất. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh liên tỉnh với Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và phân tích tổng hợp logic - lịch sử cho phép bóc tách bản chất kinh tế chính trị của vấn đề, đảm bảo tính khách quan và khoa học cho toàn bộ chuỗi dữ liệu trong khung thời gian 10 năm nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô dân số và áp lực việc làm tại Hải Dương gia tăng nhanh chóng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu. Dân số toàn tỉnh tăng từ 1.664 nghìn người năm 2000 lên 1.703 nghìn người năm 2009; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh từ 54,7% lên 63,7%. Tuy nhiên, cơ cấu cư trú chuyển biến chậm khi dân số nông thôn vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo 80,9% vào năm 2009, tạo sức ép khổng lồ lên quỹ đất nông nghiệp vốn đã bị thu hẹp hàng nghìn ha để nhường chỗ cho các khu công nghiệp tập trung.

Thứ hai, việc mất đất sản xuất dẫn đến tình trạng thiếu việc làm trầm trọng và suy giảm thu nhập diện rộng. Cứ 1 ha đất nông nghiệp bị thu hồi làm mất việc làm của khoảng 13 lao động nông nghiệp. Kết quả điều tra thực tế cho thấy 53% số hộ có thu nhập giảm sút so với trước khi bị thu hồi đất, 34,5% hộ có điều kiện sống suy giảm, trong khi chỉ có 13% số hộ nâng cao được thu nhập và 29% hộ cải thiện được điều kiện sống. Sự hụt hẫng về sinh kế khiến đời sống của đại bộ phận nông dân trở nên bấp bênh.

Thứ ba, cơ cấu chuyển đổi ngành nghề sau thu hồi đất còn mang tính tự phát và lệch pha nghiêm trọng. Khoảng 43,7% lao động vẫn cố gắng bám ruộng canh tác trên diện tích đất ít ỏi còn lại, chỉ có 1,81% chuyển sang lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, 4,93% chuyển sang ngành thương mại dịch vụ, và có tới 14,87% lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp, hoàn toàn chưa định hướng được nghề nghiệp mới.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên là do chất lượng lao động nông thôn còn thấp, thiếu kỹ năng nghề nghiệp và tác phong công nghiệp. Mặc dù 1 ha đất khu công nghiệp có thể tạo ra giá trị hơn 500 triệu đồng mỗi năm và thu hút từ 50 đến 100 lao động – vượt trội so với mức 22,5 triệu đồng và 3 đến 5 lao động của 1 ha đất nông nghiệp – nhưng lao động mất đất không đủ điều kiện tuyển dụng vào các doanh nghiệp công nghệ cao. Khi so sánh với kinh nghiệm của Hà Nội với mức hỗ trợ đào tạo nghề 3,8 triệu đồng/người hay Vĩnh Phúc với đề án 87 tỷ đồng hỗ trợ 14.000 lao động, công tác đào tạo và giải quyết việc làm tại Hải Dương còn thiếu tính đón đầu.

Để trực quan hóa các phát hiện này trong các công trình nghiên cứu, dữ liệu chuyển dịch việc làm có thể được trình bày thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu phân bổ nghề nghiệp sau thu hồi đất với lát cắt 43,7% làm nông nghiệp tự do và 14,87% mất định hướng. Song song đó, bảng số liệu đối sánh thu nhập trước và sau thu hồi đất (với tỷ lệ 53% giảm, 34,5% sống khó khăn hơn) sẽ phản ánh rõ nét sự phân hóa kinh tế hộ gia đình, làm cơ sở khoa học để đánh giá tính bền vững của các chính sách an sinh xã hội hiện hành.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch tích hợp và đào tạo nghề đón đầu: Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương cần công khai minh bạch quy hoạch sử dụng đất chi tiết trước thời điểm giải phóng mặt bằng từ 2 đến 4 năm. Trong khoảng thời gian này, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các cơ sở dạy nghề tiến hành điều tra nguyện vọng, phân loại lao động và tổ chức đào tạo nghề miễn phí, hướng tới mục tiêu 100% lao động trong độ tuổi có nhu cầu được đào tạo và định hướng nghề nghiệp trước khi bàn giao đất.

Thứ hai, ràng buộc trách nhiệm tuyển dụng của doanh nghiệp: Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Hải Dương cần ban hành quy chế bắt buộc các chủ đầu tư dự án sử dụng đất thu hồi phải đào tạo tại chỗ và tuyển dụng tối thiểu 10 lao động địa phương trên mỗi ha đất được giao. Phấn đấu nâng tỷ lệ lao động bị thu hồi đất được tuyển dụng vào làm việc ổn định tại các khu, cụm công nghiệp lên mức 30% đến 40% trong giai đoạn 2011 - 2015.

Thứ ba, triển khai chính sách giao đất dịch vụ và trợ lực tín dụng: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh cần thể chế hóa mô hình giao đất dịch vụ thương mại với tỷ lệ khoảng 10% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi (tương đương 10m2 đất dịch vụ cho mỗi sào đất bàn giao). Đồng thời, Ngân hàng Chính sách Xã hội triển khai các gói vay ưu đãi từ 10 đến 30 triệu đồng/lao động với lãi suất thấp nhằm hỗ trợ nông dân xây dựng cơ sở kinh doanh, nhà trọ cho thuê hoặc tham gia xuất khẩu lao động.

Thứ tư, tái cơ cấu nông nghiệp công nghệ cao và phát triển làng nghề: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên diện tích đất nông nghiệp còn lại theo hướng thâm canh kỹ thuật cao, đạt giá trị kinh tế từ 50 đến 100 triệu đồng/ha mỗi năm. Song song đó, khôi phục và mở rộng hơn 10 cụm làng nghề truyền thống nhằm tạo việc làm tại chỗ phù hợp cho nhóm lao động nữ và lao động trên 40 tuổi khó thích ứng với môi trường công nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương sử dụng kết quả nghiên cứu để tham mưu ban hành khung chính sách bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề và chuyển đổi sinh kế bền vững cho người dân vùng dự án.

Nhóm ban quản lý dự án và các doanh nghiệp đầu tư: Các nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, doanh nghiệp thứ cấp trong và ngoài nước tham khảo để xây dựng kế hoạch trách nhiệm xã hội, thiết lập kênh hợp tác đào tạo và tuyển dụng nhân lực tại chỗ, giúp rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng và ổn định nguồn lao động sản xuất.

Nhóm nghiên cứu, giảng viên và học viên học thuật: Các chuyên gia kinh tế, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế Chính trị, Kinh tế Phát triển, Quản lý Kinh tế, Xã hội học sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận và hệ thống dữ liệu thực chứng chuyên sâu về thị trường lao động nông thôn thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa.

Nhóm chính quyền cơ sở và các tổ chức đoàn thể xã hội: Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên tại các vùng có dự án thu hồi đất ứng dụng các bài học thực tiễn để tổ chức các mô hình tự tạo việc làm, tư vấn học nghề và hòa giải các tranh chấp, khiếu nại phát sinh từ cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Thu hồi đất nông nghiệp tác động như thế nào đến mức sống của hộ nông dân tại Hải Dương? Khảo sát thực tế chỉ ra rằng thu hồi đất gây xáo trộn lớn về kinh tế khi có tới 53% số hộ bị sụt giảm thu nhập và 34,5% hộ có điều kiện sống khó khăn hơn trước. Nguyên nhân là do người dân mất đi nguồn thu ổn định từ nông nghiệp trong khi chi phí sinh hoạt đô thị gia tăng nhanh chóng.

Tại sao phần lớn nông dân mất đất không thể làm việc tại các khu công nghiệp mới mở? Mặc dù 1 ha đất khu công nghiệp tạo ra từ 50 đến 100 chỗ làm việc, nhưng hơn 60% lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, tác phong lao động tự do và nhiều người đã quá tuổi tuyển dụng, khiến họ không vượt qua được tiêu chuẩn tuyển chọn khắt khe của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Cơ chế giao đất dịch vụ có vai trò đột phá như thế nào trong giải quyết việc làm? Cơ chế cấp đất dịch vụ với định mức 10% diện tích đất thu hồi tạo tiền đề vật chất trực tiếp để nông dân chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp như kinh doanh ăn uống, bán hàng tạp phẩm, xây nhà trọ cho công nhân thuê, giúp tạo việc làm tại chỗ bền vững cho cả lao động lớn tuổi và lao động phổ thông.

Luận văn đề xuất những chính sách hỗ trợ tài chính cụ thể nào cho người lao động? Tác giả kiến nghị cung cấp các gói tín dụng ưu đãi từ 10 đến 30 triệu đồng/người từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm để hỗ trợ chuyển đổi nghề, đồng thời cấp kinh phí hỗ trợ học nghề từ 200.000 đến 300.000 đồng/học viên/tháng trong thời gian từ 10 đến 15 tháng theo mô hình đã triển khai thành công tại các tỉnh lân cận.

Phương án nào hiệu quả nhất để tạo sinh kế cho lao động nữ và lao động lớn tuổi mất đất? Giải pháp khả thi nhất là phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống, chuyển đổi sang làm dịch vụ thương mại quy mô hộ gia đình và thâm canh nông nghiệp công nghệ cao trên phần diện tích đất còn lại để đạt doanh thu trên 50 triệu đồng/ha/năm, giúp nhóm lao động này thích ứng tự nhiên mà không chịu áp lực về trình độ công nghệ.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận Kinh tế Chính trị và kinh nghiệm thực tiễn về mối quan hệ giữa thu hồi đất và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Phân tích thực chứng làm sáng tỏ thực trạng biến động việc làm tại Hải Dương với các chỉ số đáng báo động: 53% hộ giảm thu nhập, 13 lao động mất việc trên mỗi ha đất bị thu hồi và 14,87% lao động hoàn toàn mất định hướng sinh kế.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc từ mô hình hỗ trợ đào tạo nghề của Hà Nội, phát triển làng nghề của Bắc Ninh và cơ chế cấp đất dịch vụ đột phá của Vĩnh Phúc để vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tế của tỉnh Hải Dương.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp đa tầng có tính khả thi cao, gắn kết chặt chẽ quy hoạch sử dụng đất với công tác đào tạo nghề đón đầu từ 2 đến 4 năm, quy định định mức tuyển dụng 10 lao động/ha đối với doanh nghiệp và hỗ trợ vốn vay 10 đến 30 triệu đồng/lao động.
  • Mở ra định hướng khoa học để các cấp chính quyền tỉnh Hải Dương và các địa phương tương đồng tiếp tục hoàn thiện khung chính sách an sinh xã hội bền vững trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể khai thác toàn diện các luận cứ khoa học và hệ thống dữ liệu chi tiết của luận văn để ứng dụng vào công tác thực tiễn và phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan.