Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam đã thúc đẩy mạnh mẽ tốc độ đô thị hóa, kéo theo sự chuyển đổi mục đích sử dụng của hàng trăm nghìn héc-ta đất nông nghiệp. Tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội, kể từ khi được thành lập theo Nghị định 132/2003/NĐ-CP, tốc độ đô thị hóa diễn ra với tốc độ rất nhanh. Hàng loạt dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật, khu đô thị mới và công trình phúc lợi xã hội đã làm thu hẹp trên 60% diện tích đất nông nghiệp tại nhiều phường ven đô.

Việc thu hồi đất – tư liệu sản xuất cốt lõi của nông dân – đã đẩy hàng nghìn hộ gia đình vào tình thế bị động. Không ít lao động rơi vào tình trạng "ba không": không đất sản xuất, không nghề nghiệp ổn định và không thu nhập bền vững. Nhằm giải quyết bài toán cấp bách này, đề tài tập trung đánh giá thực trạng thu hồi đất và thực tiễn giải quyết việc làm cho người lao động tại quận Long Biên trong giai đoạn 2011 - 2015, khảo sát trọng điểm tại 3 địa bàn: phường Phúc Lợi, phường Việt Hưng và phường Giang Biên.

Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ các rào cản sinh kế, đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ hiện hành, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tỷ lệ lao động có việc làm ổn định sau thu hồi đất đạt trên 75%. Nghiên cứu không chỉ mang ý nghĩa học thuật sâu sắc đối với chuyên ngành Kinh tế chính trị mà còn cung cấp luận cứ thực tiễn quan trọng, giúp các nhà hoạch định chính sách đô thị hóa tại Hà Nội bảo đảm an sinh xã hội bền vững cho hơn 80% hộ dân chịu ảnh hưởng giải phóng mặt bằng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết Kinh tế chính trị Mác - Lênin về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đi cùng với đó là lý thuyết về cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v), giải thích xu hướng sụt giảm nhu cầu lao động giản đơn khi kỹ thuật và công nghệ hiện đại hóa. Luận văn tiếp cận khái niệm việc làm theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2012 số 10/2012/QH13 và định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 1983).

Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm trụ cột: việc làm chính thức, việc làm phi chính thức, chuyển dịch cơ cấu việc làm nông thôn và thu hồi đất nông nghiệp theo quy định tại Khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai 2003. Đồng thời, mô hình nghiên cứu tích hợp 6 yếu tố tác động then chốt: quy mô vốn đầu tư, trình độ chuyên môn của người lao động, chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, nhu cầu phát triển của địa phương, sự vận hành của thị trường sức lao động và đặc điểm nhân khẩu học của nông dân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015 của UBND quận Long Biên, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng và Chi cục Thống kê. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu trực tiếp 100 hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi tại 3 phường: Phúc Lợi (35 hộ), Việt Hưng (35 hộ) và Giang Biên (30 hộ).

Phương pháp chọn mẫu phân tầng được áp dụng dựa trên tỷ lệ đất bị thu hồi: Nhóm I (thu hồi trên 70% diện tích đất), Nhóm II (thu hồi từ 50% đến 70%) và Nhóm III (thu hồi dưới 50%). Cỡ mẫu 100 hộ bảo đảm tính đại diện cao cho các mức độ chịu tác động khác nhau của quá trình đô thị hóa.

Luận văn lựa chọn phương pháp trừu tượng hóa khoa học nhằm loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, đi sâu vào bản chất các quan hệ kinh tế - xã hội. Phương pháp thống kê mô tả và phân tích tổng hợp được sử dụng để lượng hóa sự biến động về việc làm, thu nhập và chi tiêu của các nhóm hộ trong timeline 2011 - 2015, cung cấp các bằng chứng định lượng chuẩn xác phục vụ việc kiểm định lý thuyết.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu tại quận Long Biên giai đoạn 2011 - 2015 đã chỉ ra 4 phát hiện thực tiễn mang tính then chốt:

Thứ nhất, tốc độ thu hồi đất nông nghiệp diễn ra nhanh và tập trung. Trong số 100 hộ điều tra, có tới 42% số hộ thuộc Nhóm I (mất trên 70% đất), 36% thuộc Nhóm II và 22% thuộc Nhóm III. Tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hẹp đã làm sụt giảm ngay lập tức 65% quỹ thời gian lao động truyền thống của các hộ gia đình.

Thứ hai, cơ cấu việc làm có sự chuyển dịch mạnh nhưng thiếu tính bền vững. Trước khi thu hồi đất, tỷ lệ lao động tham gia sản xuất nông nghiệp thuần túy chiếm 81,5%. Sau khi mất đất, tỷ lệ này giảm mạnh xuống còn 18,5%. Tỷ trọng lao động chuyển sang khu vực dịch vụ, thương mại nhỏ và lao động tự do không chính thức tăng lên 46,2%, trong khi tỷ lệ lao động được tuyển dụng vào các doanh nghiệp công nghiệp chỉ đạt 14,8% do hạn chế về tay nghề.

Thứ ba, hiệu quả sử dụng nguồn tiền bồi thường chưa gắn với sinh kế lâu dài. Khoảng 56% tổng số tiền đền bù được người dân sử dụng vào việc xây dựng, sửa chữa nhà ở và mua sắm tiện nghi sinh hoạt; 24% được gửi tiết kiệm ngân hàng; chỉ có khoảng 20% nguồn tiền được đầu tư trực tiếp vào mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc chi trả học phí học nghề.

Thứ tư, thu nhập bình quân của các hộ sau thu hồi đất có sự phân hóa rõ rệt. Thu nhập bình quân của nhóm hộ chuyển đổi thành công sang kinh doanh dịch vụ tăng từ 42 triệu đồng lên 78 triệu đồng/hộ/năm. Ngược lại, nhóm hộ không chuyển đổi được nghề nghiệp có mức thu nhập thực tế giảm khoảng 15% sau khi trừ đi các chi phí sinh hoạt đô thị gia tăng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên là do sự thiếu đồng bộ giữa chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng và kế hoạch đào tạo nghề dài hạn. Hơn 70% lao động bị thu hồi đất tại Long Biên có độ tuổi trên 40 với trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, gây trở ngại lớn cho việc tiếp cận thị trường lao động công nghiệp hiện đại.

So sánh với kinh nghiệm tại huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên), nơi dự án khai khoáng Núi Pháo đầu tư 25 tỷ đồng tạo sinh kế, đào tạo 2.200 người và giải quyết việc làm dài hạn cho 600 lao động sở tại, quận Long Biên còn thiếu sự ràng buộc trách nhiệm tuyển dụng đối với các chủ đầu tư dự án đô thị. Tương tự, bài học tại thành phố Đà Nẵng với việc giải quyết 80.000 chỗ làm mỗi năm thông qua chính sách giao đất dịch vụ thương mại là mô hình quận Long Biên cần tiếp thu.

Về mặt trình bày trực quan, các dữ liệu chuyển dịch cơ cấu việc làm có thể được minh họa tối ưu qua biểu đồ tròn so sánh tỷ trọng ngành nghề trước và sau giải phóng mặt bằng. Bên cạnh đó, việc xây dựng bảng thống kê so sánh đa chiều giữa 3 nhóm hộ (mất trên 70%, 50-70% và dưới 50% đất) về các chỉ tiêu thu nhập, tỷ lệ thất nghiệp và mức độ hài hòa sinh kế sẽ giúp các nhà quản lý nhận diện nhanh chóng mức độ dễ bị tổn thương của từng phân khúc dân cư.

Đề xuất và khuyến nghị

Hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm giải quyết triệt để vấn đề việc làm cho lao động sau thu hồi đất nông nghiệp tại quận Long Biên:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách và ràng buộc trách nhiệm của chủ đầu tư. UBND quận Long Biên cần phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chế bắt buộc các doanh nghiệp triển khai dự án trên địa bàn phải cam kết tuyển dụng tối thiểu 25% đến 30% lao động địa phương bị thu hồi đất vào các vị trí việc làm phù hợp. Mục tiêu hoàn thiện khung pháp lý này trong giai đoạn 2016 - 2018.

Thứ hai, đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường. Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm quận Long Biên cần đa dạng hóa các chương trình đào tạo ngắn hạn (lái xe, sửa chữa điện nước, chế biến món ăn, nghiệp vụ bán hàng, chăm sóc cây cảnh đô thị). Đặt target metric đạt 100% lao động mất đất trong độ tuổi có nhu cầu được miễn phí học nghề, phấn đấu tỷ lệ có việc làm ngay sau đào tạo đạt trên 80% trong giai đoạn 2017 - 2020.

Thứ ba, mở rộng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và hướng dẫn quản lý tài chính hộ gia đình. Ngân hàng Chính sách Xã hội quận Long Biên triển khai các gói vay ưu đãi từ 50 đến 100 triệu đồng/hộ với thời hạn 24 đến 36 tháng dành riêng cho các hộ chuyển đổi sang mô hình kinh doanh dịch vụ thương mại. Đồng thời, Hội Phụ nữ và Hội Nông dân quận tổ chức các lớp tư vấn quản trị tài chính, giúp 100% hộ nhận tiền đền bù biết cách phân bổ vốn sản xuất hiệu quả.

Thứ tư, phát triển kinh tế dịch vụ đô thị và mô hình nông nghiệp sinh thái kỹ thuật cao. Phòng Kinh tế quận Long Biên cùng UBND các phường Phúc Lợi, Việt Hưng, Giang Biên quy hoạch các điểm kinh doanh thương mại tập trung, chợ dân sinh và mô hình trang trại nông nghiệp đô thị, phấn đấu tạo ra từ 1.500 đến 2.000 việc làm mới mỗi năm giai đoạn 2016 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý Nhà nước và chính quyền địa phương: Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, UBND cấp quận/huyện đang đối mặt với bài toán đô thị hóa có thể khai thác bộ số liệu khảo sát 100 hộ dân và 6 tiêu chí đánh giá để xây dựng đề án an sinh xã hội, giải phóng mặt bằng đạt tỷ lệ đồng thuận trên 85%.
  2. Chủ đầu tư và các doanh nghiệp dự án đô thị: Các doanh nghiệp bất động sản, hạ tầng khu công nghiệp sử dụng luận văn để thiết kế chính sách trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR), xây dựng phương án bồi thường sinh kế hài hòa, giúp rút ngắn thời gian bàn giao mặt bằng từ 20% đến 30%.
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các nhà khoa học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế và Xã hội học có thể kế thừa khung lý thuyết, phương pháp chọn mẫu phân tầng và hệ thống biến số nghiên cứu để phát triển các đề tài khoa học cấp Bộ hoặc luận án tiến sĩ.
  4. Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội và người lao động diện giải tỏa: Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên và các hộ dân nắm bắt được xu hướng chuyển dịch lao động, từ đó chủ động tiếp cận các gói hỗ trợ học nghề miễn phí và nguồn vốn tín dụng ưu đãi để duy trì mức thu nhập ổn định trên 65 triệu đồng/hộ/năm.

Câu hỏi thường gặp

Nhóm lao động nào chịu tổn thương lớn nhất sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp? Lao động nữ trên 40 tuổi và người có trình độ học vấn dưới trung học cơ sở là nhóm chịu rủi ro cao nhất. Kết quả khảo sát 100 hộ dân tại Long Biên cho thấy nhóm này chiếm hơn 60% tổng số người thất nghiệp hoặc chỉ tìm được các công việc thời vụ bấp bênh do rào cản về độ tuổi và thiếu kỹ năng công nghiệp.

Tại sao phần lớn tiền bồi thường đất không được chuyển hóa thành sinh kế bền vững? Khảo sát thực tế chỉ ra rằng 56% tiền bồi thường được chi dùng cho xây dựng nhà ở và tiêu dùng cá nhân, trong khi chỉ 20% được tái đầu tư sản xuất. Tâm lý thỏa mãn nhất thời sau khi nhận khoản tiền lớn kết hợp với sự thiếu hụt kiến thức quản trị tài chính khiến nguồn vốn này nhanh chóng bị cạn kiệt trong vòng 3 đến 5 năm.

Các phiên giao dịch việc làm của quận Long Biên đã đạt hiệu quả như thế nào? Trong giai đoạn 2011 - 2015, các sàn giao dịch việc làm của quận đã hỗ trợ hàng trăm lao động tìm được việc làm. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động mất đất tìm được việc làm qua kênh này mới đạt khoảng 35% do có sự chênh lệch lớn giữa đòi hỏi tay nghề của doanh nghiệp tuyển dụng và khả năng đáp ứng thực tế của người nông dân.

Mô hình tạo sinh kế nào tại các địa phương khác có thể áp dụng cho quận Long Biên? Mô hình dự án Núi Pháo tại Thái Nguyên đầu tư 25 tỷ đồng xây dựng tổ hợp sản xuất chè VietGap đạt thu nhập 60 - 100 triệu đồng/hộ/năm là ví dụ tiêu biểu. Quận Long Biên có thể vận dụng linh hoạt bằng cách hỗ trợ nông dân xây dựng các mô hình dịch vụ sinh thái nông nghiệp đô thị hoặc chuỗi cửa hàng tiện ích tại các khu tái định cư.

Giải pháp then chốt nhất để người nông dân chuyển đổi nghề nghiệp thành công là gì? Giải pháp mấu chốt là chuyển đổi phương thức hỗ trợ từ "cho con cá" sang "trao cần câu". Thay vì chỉ hỗ trợ tài chính một lần, chính quyền cần đào tạo nghề theo địa chỉ sử dụng của doanh nghiệp, cam kết tỷ lệ có việc làm trên 80% kết hợp chính sách cho vay vốn ưu đãi từ 50 đến 100 triệu đồng để người dân tự tạo việc làm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận Kinh tế chính trị và xác lập 6 tiêu chí đánh giá hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp.
  • Công trình phản ánh bức tranh thực tiễn chi tiết thông qua khảo sát 100 hộ dân tại 3 phường Phúc Lợi, Việt Hưng, Giang Biên giai đoạn 2011 - 2015, chỉ rõ sự sụt giảm 65% quỹ thời gian làm nông nghiệp sau thu hồi đất.
  • Nghiên cứu đã làm rõ nguyên nhân của những tồn tại về chuyển dịch việc làm tự phát, thói quen sử dụng 56% tiền đền bù vào tiêu dùng và rào cản kỹ năng của hơn 70% lao động lớn tuổi.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc từ mô hình an sinh 25 tỷ đồng tại Thái Nguyên và chính sách việc làm cho 80.000 lao động tại Đà Nẵng để áp dụng phù hợp cho Hà Nội.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, đào tạo nghề, vốn tín dụng ưu đãi và quy hoạch kinh tế dịch vụ với mục tiêu tạo 1.500 - 2.000 việc làm mới mỗi năm giai đoạn 2016 - 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý cần khẩn trương số hóa dữ liệu lao động mất đất, đẩy mạnh liên kết đào tạo nghề theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Độc giả quan tâm và các nhà hoạch định chính sách hãy tham khảo toàn văn luận văn để áp dụng ngay những giải pháp sinh kế đô thị bền vững vào thực tiễn địa phương.