Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến việc chuyển đổi trung bình khoảng 50.000 đến 60.000 ha đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp mỗi năm. Sự chuyển dịch này trực tiếp tác động tới tư liệu sản xuất của hàng triệu nông dân, làm phát sinh trung bình 1,5 lao động mất việc làm trên mỗi hộ gia đình bị thu hồi đất. Tại khu vực cửa ngõ phía Đông Thủ đô Hà Nội, huyện Gia Lâm có tổng diện tích tự nhiên là 11.473 ha với quy mô dân số khoảng 243.000 người, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm hơn 53,3%. Sự xuất hiện của dự án Khu đô thị Vincity Gia Lâm với diện tích quy hoạch lên tới 420 ha và quy mô dân số dự kiến 89.000 người đã làm thay đổi căn bản cấu trúc kinh tế - xã hội địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự đứt gãy và biến đổi sinh kế của các hộ nông dân khi mất đi tư liệu sản xuất cốt lõi là đất đai. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về sinh kế bền vững, đánh giá thực trạng nguồn lực sinh kế và thu nhập của các nông hộ, phân tích các nhân tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm sinh kế dài hạn. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2018–2019, định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 tại ba xã trọng điểm gồm Kiêu Kỵ, Dương Xá và Đa Tốn. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giải quyết bài toán an sinh xã hội cho hơn 120 hộ điều tra thực tế, cung cấp luận cứ khoa học để chính quyền địa phương và các nhà quản lý chuyển đổi thành công mô hình việc làm cho hàng nghìn nhân khẩu ven đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1999, 2001) làm nền tảng phân tích chủ đạo. Khung lý thuyết này tiếp cận sinh kế xoay quanh con người thông qua 5 nguồn vốn tài sản căn bản: nguồn vốn con người, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật chất, nguồn vốn tài chính và nguồn vốn xã hội. Mối quan hệ tương hỗ giữa 5 nguồn vốn này quyết định năng lực ứng phó của hộ gia đình trước bối cảnh dễ bị tổn thương gồm các cú sốc kinh tế, xu hướng đô thị hóa và tính thời vụ của thị trường.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý luận về kinh tế nông hộ của Ellis (1988), Chambers và Conway (1992) cùng các nghiên cứu chuyên sâu về hộ nông dân Việt Nam của Đào Thế Tuấn (1997). Hệ thống khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: sinh kế bền vững (khả năng duy trì và nâng cao tài sản sống mà không làm suy thoái tài nguyên), đất nông nghiệp và thu hồi đất nông nghiệp (theo quy định của Luật Đất đai năm 2013), cùng các chiến lược đa dạng hóa sinh kế thích ứng. Cơ sở lý luận khẳng định khi nguồn vốn tự nhiên bị sụt giảm đột ngột do thu hồi đất, hộ nông dân bắt buộc phải chuyển đổi và tái cấu trúc nguồn vốn nhân lực và tài chính để duy trì mức sống ổn định.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 9/2018 đến tháng 10/2019. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ niên giám thống kê của Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm giai đoạn 2016–2018, các báo cáo giải phóng mặt bằng và quy hoạch của UBND huyện Gia Lâm cùng văn bản pháp quy liên quan. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra bảng hỏi trực tiếp đối với 120 hộ nông dân sản xuất cây ăn quả và phỏng vấn sâu cán bộ quản lý tại ba xã Kiêu Kỵ, Dương Xá và Đa Tốn.

Phương pháp chọn mẫu khảo sát là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi nhằm bảo đảm tính đại diện cao cho các nhóm hộ bị ảnh hưởng. Phương pháp phân tích số liệu chủ đạo gồm thống kê mô tả nhằm lượng hóa thực trạng tài sản sinh kế, cơ cấu lao động và mức độ phân bổ tiền đền bù. Phương pháp thống kê so sánh được áp dụng để đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế, thu nhập và cơ cấu nghề nghiệp của nông hộ trước và sau thời điểm giải phóng mặt bằng năm 2018. Việc kết hợp hai phương pháp này giúp phản ánh khách quan biến động sinh kế và xác định chính xác các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nguồn vốn tự nhiên của các hộ gia đình bị suy giảm nghiêm trọng. Trên địa bàn huyện Gia Lâm, diện tích đất nông nghiệp từ 6.115,8 ha năm 2016 đã giảm mạnh qua các năm, riêng dự án Vincity Gia Lâm đã thu hồi 420 ha đất nông nghiệp màu mỡ. 100% hộ khảo sát bị mất từ 50% đến toàn bộ diện tích đất canh tác, làm mất đi tư liệu sản xuất chính của các hộ thuần nông.

Thứ hai, có sự biến động lớn trong cơ cấu sử dụng nguồn vốn tài chính và tài sản. Khoản tiền đền bù đất đai trung bình mang lại nguồn tiền mặt lớn tức thì, nhưng phân bổ chưa hợp lý: hơn 55% nguồn tiền đền bù được người dân sử dụng vào việc xây dựng, sửa chữa nhà ở và mua sắm tiện nghi sinh hoạt; khoảng 20% được gửi tiết kiệm ngân hàng; và chỉ có dưới 15% được tái đầu tư trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp hoặc học nghề.

Thứ ba, rào cản nghiêm trọng về nguồn vốn nhân lực trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp. Cơ cấu lao động của các hộ khảo sát cho thấy nhóm tuổi từ 40 đến 60 tuổi chiếm tỷ lệ trên 48%, trong khi trình độ học vấn chủ yếu ở mức trung học cơ sở và chưa qua đào tạo nghề chuyên môn. Chỉ có khoảng 22% lao động trẻ dưới 35 tuổi tìm được việc làm tại các doanh nghiệp hoặc khu công nghiệp, phần lớn lao động trung niên rơi vào tình trạng thiếu việc làm hoặc làm các công việc tự do bấp bênh.

Thứ tư, cơ cấu thu nhập có sự chuyển dịch sâu sắc nhưng thiếu tính bền vững. Thu nhập bình quân từ nông nghiệp giảm từ mức đóng góp trên 65% tổng thu nhập hộ năm 2016 xuống còn dưới 18% năm 2018. Mặc dù thu nhập từ thương mại - dịch vụ cá thể và làm thuê tăng lên, chiếm hơn 70% tổng thu nhập năm 2019, tính bấp bênh và rủi ro tài chính vẫn ở mức cao do chi phí sinh hoạt đô thị gia tăng nhanh chóng.

Thảo luận kết quả

Khi hệ thống hóa dữ liệu qua các bảng biểu thống kê giai đoạn 2016–2018 và biểu đồ cơ cấu nguồn thu, kết quả phản ánh rõ nét sự mất cân đối giữa tốc độ đô thị hóa hạ tầng và năng lực chuyển đổi sinh kế của người dân. Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ quán tính sản xuất nông nghiệp truyền thống, sự thiếu hụt định hướng quản lý tài chính dài hạn và chất lượng các khóa đào tạo nghề ngắn hạn chưa đáp ứng được đòi hỏi khắt khe của các doanh nghiệp đô thị hiện đại.

So sánh với các nghiên cứu thực tiễn tại Vĩnh Phúc (nơi có 45.000 lao động dôi dư khi thu hồi 4.000 ha đất) và quận Cẩm Lệ - Đà Nẵng (với hơn 10.000 hộ giải tỏa), nghiên cứu tại Gia Lâm cho thấy điểm tương đồng về áp lực việc làm đối với lao động trên 40 tuổi. Tuy nhiên, huyện Gia Lâm có lợi thế vượt trội về hệ thống giao thông huyết mạch (Quốc lộ 5, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng) và các làng nghề truyền thống lâu đời như quỳ vàng Kiêu Kỵ hay gốm sứ Bát Tràng lân cận. Nếu không kịp thời ban hành các cơ chế phát triển quỹ đất dịch vụ thương mại như kinh nghiệm Vĩnh Phúc từng áp dụng (theo Quyết định 2502/2004/QĐ-UB), nguy cơ tái nghèo và bất ổn an sinh xã hội tại khu vực ven đô Gia Lâm là rất lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách quy hoạch đất dịch vụ thương mại và hỗ trợ mặt bằng kinh doanh. UBND thành phố Hà Nội và UBND huyện Gia Lâm cần quy hoạch dành từ 10% đến 15% diện tích phụ trợ xung quanh khu đô thị mới để giao hoặc cho thuê ưu đãi đối với các hộ mất trên 30% đất sản xuất. Mục tiêu đến năm 2022 đạt 100% hộ dân có nhu cầu kinh doanh thương mại được tiếp cận mặt bằng văn minh, giúp chuyển đổi nhanh sang các ngành nghề dịch vụ đô thị.

Thứ hai, đổi mới công tác đào tạo nghề phân tầng và kết nối tuyển dụng doanh nghiệp. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Gia Lâm chủ trì, phối hợp với chủ đầu tư dự án triển khai cấp thẻ học nghề trị giá từ 6 đến 10 triệu đồng/lao động trong giai đoạn 2020–2025. Phân loại đào tạo rõ ràng: nhóm dưới 35 tuổi tập trung đào tạo kỹ thuật, công nghệ thông tin; nhóm 35-50 tuổi đào tạo lái xe, dịch vụ bán lẻ, nấu ăn; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 65% và cam kết các nhà thầu khu đô thị tiếp nhận tối thiểu 30% lao động địa phương vào các vị trí vận hành, bảo vệ, cây xanh.

Thứ ba, nâng cao năng lực quản trị tài chính và đa dạng hóa tín dụng vi mô. Hội Nông dân và Hội Phụ nữ huyện Gia Lâm định kỳ hàng quý tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng quản lý chi tiêu và tư vấn đầu tư vốn bồi thường. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện mở rộng các gói vay ưu đãi từ 50 đến 100 triệu đồng/hộ, phấn đấu đến năm 2023 hỗ trợ ít nhất 80% hộ gia đình định hướng tối thiểu 40% nguồn tiền tích lũy vào sản xuất kinh doanh bền vững hoặc tài sản sinh lời dài hạn.

Thứ tư, phát triển mô hình nông nghiệp đô thị công nghệ cao kết hợp du lịch làng nghề. Trung tâm Khuyến nông phối hợp cùng UBND các xã Đa Tốn, Kiêu Kỵ tái cơ cấu diện tích đất nông nghiệp còn lại sang trồng hoa cây cảnh, cây ăn quả giá trị cao ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt. Phấn đấu giai đoạn 2020–2030 nâng giá trị sản xuất trên diện tích đất còn lại đạt trên 300 triệu đồng/ha/năm, kết nối tour trải nghiệm làng nghề dát vàng Kiêu Kỵ để tạo sinh kế tại chỗ cho lao động lớn tuổi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cấp quận, huyện. Luận văn cung cấp bức tranh số liệu thực tế về 120 hộ dân tại Gia Lâm, làm căn cứ thực tiễn để xây dựng bảng giá đền bù, chính sách giao đất dịch vụ và các chương trình an sinh xã hội sát sườn khi phê duyệt các dự án giải phóng mặt bằng quy mô lớn trên 100 ha.

Nhóm 2: Các tổ chức đoàn thể xã hội (Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên). Tài liệu giúp các đơn vị này ứng dụng khung sinh kế DFID để thiết kế các chương trình giám sát, các lớp tư vấn nghề nghiệp phân theo lứa tuổi và các dự án tín dụng vi mô hỗ trợ hội viên bảo tồn nguồn vốn sinh kế gia đình.

Nhóm 3: Các doanh nghiệp bất động sản, chủ đầu tư hạ tầng và khu đô thị. Doanh nghiệp có thể tham khảo các giải pháp liên kết đào tạo và tuyển dụng lao động địa phương, qua đó nâng cao trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR), tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân và đẩy nhanh tiến độ bàn giao mặt bằng thi công dự án.

Nhóm 4: Giảng viên, chuyên gia nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Phát triển nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra vi mô, kỹ thuật xử lý dữ liệu hỗn hợp và khung lý luận sinh kế ứng dụng trong phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ven đô.

Câu hỏi thường gặp

Khung sinh kế bền vững DFID được ứng dụng như thế nào trong phân tích trường hợp Vincity Gia Lâm? Khung DFID giúp lượng hóa 5 nguồn vốn sinh kế của 120 hộ dân khảo sát. Kết quả chỉ ra khi nguồn vốn tự nhiên giảm hơn 50%, nguồn vốn tài chính tăng đột biến từ tiền đền bù nhưng nguồn vốn con người lại thiếu hụt kỹ năng, dẫn đến nguy cơ suy giảm sinh kế nếu không có can thiệp chính sách kịp thời.

Tại sao lao động từ 40 đến 60 tuổi gặp nhiều khó khăn nhất sau khi bị thu hồi đất? Nhóm lao động 40–60 tuổi chiếm trên 48% lực lượng khảo sát nhưng gặp rào cản lớn về trình độ và khả năng thích nghi công nghiệp. Các doanh nghiệp khu đô thị chủ yếu tuyển dụng lao động dưới 35 tuổi, khiến nhóm tuổi này khó chuyển đổi nghề và dễ rơi vào cảnh thiếu việc làm.

Nguồn tiền bồi thường đất đai tại các xã khảo sát được phân bổ ra sao? Khảo sát thực tế tại ba xã Kiêu Kỵ, Đa Tốn và Dương Xá cho thấy khoảng 55% đến 60% tiền đền bù được sử dụng để xây nhà và sắm tiện nghi. Khoảng 20% gửi tiết kiệm và chỉ dưới 15% được đầu tư trực tiếp vào mở rộng sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.

Bài học kinh nghiệm từ tỉnh Vĩnh Phúc và Đà Nẵng có thể vận dụng thế nào cho Gia Lâm? Chính sách giao đất dịch vụ cho hộ mất trên 40% đất của Vĩnh Phúc và các sàn giao dịch việc làm của Đà Nẵng giải quyết việc làm cho hơn 2.200 lao động là bài học then chốt. Gia Lâm cần quy hoạch mặt bằng thương mại tập trung và gắn đào tạo với nhu cầu tuyển dụng thực tế.

Mô hình sinh kế nông nghiệp nào khả thi cho diện tích đất còn lại của huyện Gia Lâm? Với hơn 6.115 ha đất nông nghiệp còn lại, mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái kết hợp du lịch làng nghề tại Kiêu Kỵ, Đa Tốn là tối ưu. Ứng dụng công nghệ cao trồng hoa, cây ăn quả đặc sản có thể mang lại giá trị trên 300 triệu đồng/ha/năm, phù hợp với lao động lớn tuổi.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện sự biến động của 5 nguồn vốn sinh kế tại 120 hộ nông dân bị ảnh hưởng bởi dự án 420 ha Vincity Gia Lâm.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn chuyển đổi sinh kế của nhóm lao động 40–60 tuổi và thực trạng phân bổ tiền đền bù chưa tối ưu cho sản xuất.
  • Tổng hợp bài học kinh nghiệm sâu sắc từ các mô hình đào tạo nghề và đất dịch vụ thành công tại Vĩnh Phúc, Đà Nẵng và quốc tế.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược gồm quy hoạch đất thương mại, đào tạo nghề phân tầng, tài chính vi mô và nông nghiệp đô thị công nghệ cao.
  • Xác lập lộ trình thực thi rõ ràng cho giai đoạn 2020–2025, định hướng tầm nhìn 2030 nhằm bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội.

Luận văn đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện, có giá trị ứng dụng cao cho công tác quản lý kinh tế địa phương. Các cấp chính quyền và nhà đầu tư cần khẩn trương phối hợp triển khai các đề án đào tạo nghề và bố trí mặt bằng dịch vụ trong giai đoạn 2020–2022 để bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân ven đô!