CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp 1. Khái niệm tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp 1. Khái niệm việc làm Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: "việc làm?".
Và ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp.) người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”. Theo quan niệm này thì người có việc làm là những người lao động ở tất cả các khu vực công và tư nhân, cá thể, hộ gia đình đem lại nguồn thu nhập nuôi sống bản thân, gia đình và xã hội.
Do đó, khái niệm này khá hoàn chỉnh, phù hợp trong nền kinh tế hiện đại và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Vì vậy, khái niệm này được các quốc gia thừa nhận và đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Theo quan điểm của Mác: "Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động đó". Sức lao động do người lao động sở hữu.
6 Những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ. có thể do người lao động có quyền sở hữu, sử dụng hay quản lý hoặc không. Theo quan điểm của Mác thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới sự thiếu việc làm hay mất việc làm. Việc làm có thể hiểu là phạm trù dùng để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất và những điều kiện cần thiết sử dụng sức lao động đó (Phạm Đức Thành, 1998).
Quan điểm này có mặt tích cực là khái quát được bản chất của việc làm thừa nhận mọi hoạt động có ích đều là việc làm và chỉ ra được cách thức tạo việc làm. Tuy nhiên, quan điểm này dễ làm người ta lẫn lộn giữa việc làm hợp pháp và không hợp pháp, nhất là trong bối cảnh nước ta hiện nay đang xuất hiện rất nhiều hoạt động có ích cho cá nhân hay một nhóm người nào đó nhưng gây nguy hại cho xã hội, không được xã hội thừa nhận. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm, song đa số các tác giả đều thống nhất quan điểm mà Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Luật số 45/2019/QH14 ở Khoản 1, Điều 9, Chương II, Bộ luật Lao động: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm”. Như vậy, việc làm là lao động của con người nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân và gia đình không bị pháp luật ngăn cấm, bao gồm: - Những người làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật (gọi là việc làm được trả công).
- Những người làm các công việc tự làm hoặc các công việc gia đình để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho các công việc đó (gọi là việc làm không được trả công) Việc làm là khái niệm mang tính chất động. Vì vậy, người ta chia việc làm thành những phạm trù xã hội - nghề nghiệp khác nhau như: Việc làm chính thức: Là công việc chính mang lại thu nhập chính (đối với 7 những việc làm được trả công) và những thu nhập về của cải vật chất cho bản thân và gia đình (đối với những việc làm không được trả công). - Việc làm không chính thức: Là những công việc làm thêm ngoài công việc chính. Chẳng hạn, đối với người nông dân, việc làm chính của họ là sản xuất nông nghiệp trong mùa vụ, còn việc làm không chính thức là những việc làm thêm trong lúc nông nhàn.
- Việc làm bền vững: Là việc làm mà nó tạo ra các cơ hội cho người lao động được làm việc một cách có hiệu quả, có thu nhập công bằng, bảo đảm an toàn tại nơi làm việc, tạo điều kiện để cá nhân phát triển và khuyến khích hòa nhập xã hội, cho phép mọi người được tự do bày tỏ những mối quan tâm của mình, được tự do tổ chức và tham gia vào các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ và bảo đảm cho tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng và được đối xử bình đẳng. Việc làm của lao động nông thôn là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT - XH của một bộ phận lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm. Việc làm ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều kiện sinh sống, làm việc của người lao động nông thôn và có thể phân thành hai loại sau: - Việc làm thuần nông: Là những hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi dựa trên cơ sở kế thừa kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất được truyền qua các thế hệ. Loại việc làm này thường thiếu sự ổn định và có mức thu nhập thấp, bấp bênh.
- Việc làm phi nông nghiệp: Đây là việc làm trong các ngành nghề, lĩnh vực ngoài sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn (như công nghiệp, dịch vụ, quản lý). Đây là những việc làm đòi hỏi nguồn lao động được đào tạo, rèn luyện để có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu công việc. Từ những phân tích các quan niệm về vấn đề việc làm ở trên, có thể tổng 8 kết đưa ra khái niệm về việc làm như sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con người, là dạng hoạt động kinh tế - xã hội, đó là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích con người (cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội). Hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm.
Như vậy, hoạt động được xem là việc làm phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Thứ nhất, là hoạt động lao động của con người. Đây là hoạt động có mục đích của con người, con người dùng sức cơ bắp và thần kinh tác động vào đối tượng lao động thông qua công cụ lao động, cải biến nó phù hợp với nhu cầu của chính mình. Thứ hai, để có việc làm đòi hỏi phải có tư liệu sản xuất và sức lao động. Với ý nghĩa đó, để người lao động có việc làm đòi hỏi phải đầu tư phát triển sản xuất, phải tạo ra một số lượng tư liệu sản xuất có khả năng đáp ứng yêu cầu của người lao động.
Đồng thời, cần thường xuyên nâng cao chất lượng, số lượng sức lao động để có thể sử dụng hiệu quả tư liệu sản xuất có được. Thứ ba, để có việc làm trình độ và năng lực của người lao động phải phù hợp với tư liệu sản xuất. Nói cách khác, để sức lao động có thể kết hợp được với tư liệu sản xuất, thì người lao động phải có một trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp nhằm sử dụng tư liệu sản xuất đó. Thứ tư, việc làm là kết quả của sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất phải tạo ra một loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhất định nào đó.
Sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đó phù hợp với lợi ích của con người. Thứ năm, việc làm là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động không bị luật pháp ngăn cấm. Điều kiện này phản ánh tính pháp lý của việc làm cho phép người lao động độc lập, tự chủ lựa chọn việc làm cho mình trong khuôn khổ pháp luật quy định. Người lao động được tự do hành nghề, liên danh, liên kết, thuê mướn lao động trong khuôn khổ pháp luật và sự hướng dẫn, tạo môi trường của Nhà nước để có thể tự tạo việc làm cho mình.
Khái niệm tạo việc làm của người dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp Tạo việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Có nhiều lý thuyết tạo việc làm của các nhà kinh tế, cụ thể như sau: - Lý thuyết tạo việc làm bằng gia tăng đầu tư - tăng trưởng kinh tế. Muốn tăng trưởng kinh tế phải có tích lũy, để từ đó có vốn đầu tư mở rộng tái sản xuất, tạo ra nhiều việc làm. Đối với các nước đang phát triển do thu nhập thấp, tỷ lệ tích lũy thấp, dẫn đến thiếu vốn đầu tư.
Để tạo vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế, các nước này cần phải dựa vào lợi thế so sánh của mình là tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực giá rẻ để thu hút vốn đầu tư (hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm vốn bằng ngoại tệ, thiết bị, phương tiện kỹ thuật, công nghệ, tri thức quản lý kinh tế hiện đại) từ bên ngoài nhằm tạo ra “cú huých”, từ đó tạo thêm nhiều việc làm. Theo lý thuyết này, tốc độ và quy mô của vốn đầu tư tăng sẽ thúc đẩy trực tiếp tốc độ và quy mô của việc thu hút nguồn nhân lực vào hoạt động kinh tế, tạo nhiều việc làm mới. - Lý thuyết tạo việc làm của W. Ông đã đưa ra mô hình kinh tế nhị nguyên, sau đó được các nhà kinh tế học John Fei, Gustar Ranis, Harris áp dụng phân tích quá trình tăng trưởng ở các nước đang phát triển.