CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cổ phần Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân được thành lập nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một lĩnh vực nhất định với mục đích công ích hoặc tích luỹ lợi nhuận. Trong nền kinh tế hiện nay tồn tại nhiều hình thức tổ chức doanh nghiệp : doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong đó công ty cổ phần là loại hình công ty có quy mô lớn và phổ biến. Vậy công ty cổ phần là gì? Khái niệm: Công ty cổ phần là công ty trong đó các thành viên cùng góp vốn dưới hình thức cổ phần để hoạt động. Số vốn điều lệ của nó được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần Như vậy, công ty cổ phần có những lợi thế và bất lợi nhất định so với các loại hình doanh nghiệp khác tạo nên đặc trưng riêng có của loại hình doanh nghiệp này. Đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần Tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, loại hình công ty cổ phần chiếm phần khá lớn trong tổng doanh số hoạt động của các doanh nghiệp.
Hơn nữa quy mô vốn đầu tư và quy mô hoạt động của các công ty này cũng lớn hơn nhiều so với các công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Giữa công ty cổ phần và các loại hình công ty khác có rất nhiều điểm khác biệt quan trọng. Đó là: 4 - Công ty cổ phần là một thực thể pháp nhân tồn tại độc lập. Công ty có tài sản, huy động kinh phí, thiết lập các nghĩa vụ bằng hợp đồng và tiến hành nhiều công việc khác với tên riêng của mình.
Bởi lẽ công ty là một pháp nhân độc lập, nên đời sống của nó không phụ thuộc vào cái chết hay sự rút lui của một chủ sở hữu - Công ty cổ phần do các cổ đông góp vốn thành lập dưới hình thức cổ phần, thuộc sở hữu của nhiều cổ đông khác nhau, do đó bộ máy hoạt động cần phải được tổ chức hợp lí. Tất cả các cổ đông không thể cùng quản lí công ty mà họ sẽ bầu ra người đại diện là Hội đồng quản trị để quản lí các hoạt động của công ty và có ban kiểm soát độc lập, khách quan để giám sát việc quản lí đó. Từ đó, có thể thấy việc tổ chức bộ máy và cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính nói chung và lợi nhuận nói riêng là phức tạp và chặt chẽ để thoả mãn yêu cầu của nhiều cổ đông. Chính vì vậy, việc phân phối lợi nhuận trong công ty cổ phần cũng có đặc trưng riêng, khác với các loại hình doanh nghiệp khác thể hiện tại chính sách cổ tức của công ty.
- Các chủ sở hữu có thể chuyển giao quyền sở hữu cho người khác một cách dễ dàng mà không gây gián đoạn các hoạt động kinh doanh của công ty. Quyền sở hữu đối với công ty thể hiện qua việc các cổ phần đem lại cho cổ đông quyền được hưởng lợi tức cổ phần và quyền biểu quyết, bầu Hội đồng quản trị. - Chủ sở hữu của một công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn, giới hạn trên phần vốn đã đầu tư vào công ty. - Công ty cổ phần được quyền phát hành các loại chứng khoán gồm cả cổ phiếu để huy động vốn.
Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho công ty cổ phần thu hút được một số lượng đông đảo các cổ đông. Lợi thế này tạo cho công ty một thuận lợi rất quan trọng là nó dễ dàng thâm nhập thị trường vốn để huy động nguồn vốn cần thiết cho kinh doanh 5 - Tuy nhiên công ty cổ phần có một bất lợi lớn xuất phát từ sự tồn tại độc lập của nó là đối tượng chịu thuế 2 lần. Lần thứ nhất là công ty phải nộp thuế thu nhập công ty trước khi chia lợi nhuận cho các cổ đông. Sau khi nhận được lợi tức cổ phần, tuỳ theo mức thu nhập mà các cổ đông có thể phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Công ty cổ phần gồm có 3 loại: Công ty cổ phần nội bộ, Công ty cổ phần đại chúng và công ty cổ phần đại chúng đã niêm yết - Công ty cổ phần nội bộ (private corporation) là loại công ty chỉ phát hành cổ phiếu trong số các sáng lập viên, công nhân và người quen thuộc đối với công ty. Loại hình công ty này có một số đặc điểm tương đồng với cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần: + Các thành viên công ty thường là người quen biết nhau + Quyền sở hữu mang tính đối nhân + Vốn điều lệ chia thành những phần bằng nhau - Công ty cổ phần đại chúng (Public Corporation) là loại công ty có phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng. Mức độ rộng rãi tuỳ theo luật pháp của từng quốc gia chế định. Chẳng hạn, một số nước quy định các sáng lập viên không được nắm vượt quá 70% vốn điều lệ của công ty, phần còn lại được phát hành ra công chúng qua thị trường chứng khoán phi chính thức OTC.
- Công ty cổ phần đại chúng đã niêm yết (Listed Corporation) là loại công ty đã đăng kí tên cổ phần của nó vào danh sách chứng khoán được mua, bán tại Sở giao dịch chứng khoán. Các công ty này thường là các công ty: + Quy mô của công ty phải tương đối lớn, được đánh giá dựa trên 2 chỉ tiêu là vốn điều lệ và số lượng cổ đông. + Có mức độ công chúng hoá rộng rãi, tức là đại bộ phận vốn điều lệ do công chúng nắm quyền sở hữu. 6 + Hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua sự so sánh tỉ suất lợi nhuận của công ty phải cao hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân toàn ngành và có lợi nhuận trong ba năm liên tiếp. Tuỳ theo tình hình phát triển của nền kinh tế mà các chỉ số cụ thể của các tiêu chuẩn này sẽ được các quốc gia chế định bằng các văn bản cụ thể. Lợi nhuận trong công ty cổ phần 1. Khái niệm và cơ cấu lợi nhuận 1.
Khái niệm lợi nhuận * Các quan điểm cổ điển về lợi nhuận Ngay từ khi có hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi, mua bán hàng hoá, lợi nhuận là một trong những đề tài nghiên cứu trao đổi của nhiều nhà kinh tế học. Adam Smith là người đầu tiên trong số các nhà kinh tế học cổ điển đã nghiên cứu khá toàn diện về nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận. Ông xuất phát từ giá trị trao đổi của mọi loại hàng hoá là do lao động sản xuất ra hàng hoá quyết định để từ đó đặt nền tảng cho lí thuyết về nền kinh tế thị trường. Ông đã bác bỏ quan điểm cho rằng giá trị trao đổi được quyết định bởi tính hữu ích của hàng hoá, ông khẳng định giá trị hàng hoá quyết định giá trị trao đổi, trong cấu thành giá trị có tiền lương, địa tô và lợi nhuận.
Theo Adam Smith lợi nhuận của nhà tư bản được tạo ra trong quá trình sản xuất, là hình thái biểu hiện khác của giá trị thặng dư, do người lao động tạo ra. Ông đưa ra định nghĩa: lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của lao động (khoản khấu trừ thứ nhất là địa tô). David Ricardo là những người kế tục đã xây dựng các học thuyết của mình trên cơ sở những tiền đề và phát triển của Adam Smith. Ricardo cũng dựa vào giá trị lao động để phân tích nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa.
Ông đưa ra kết luận: Lợi nhuận chính 7 là phần giá trị lao động không được trả công tạo ra. Khác biệt với các học thuyết giá trị trên là lí luận tính hữu dụng của Jan Bantixay. Ông cho rằng hoạt động sản xuất tạo ra tính hữu dụng (giá trị sử dụng), còn tính hữu dụng lại truyền giá trị cho các vật phẩm. Điều này chứng tỏ ông đã đồng nhất giá trị và giá trị sử dụng.
Ông cho rằng không những lao động tạo ra giá trị mà tư bản cũng tạo ra giá trị. Theo ông, lợi nhuận thực chất là một hình thức tiền công đặc biệt mà nhà tư bản tự trả cho mình. Phê phán những điều sai, kế thừa những nguyên lí đúng đắn, khoa học của các nhà tiền bối, C.Mác đã nghiên cứu một cách triệt để về bản chất, nguồn gốc của lợi nhuận trong kinh tế tư bản chủ nghĩa.Mác đã phát hiện và vạch rõ toàn bộ quá trình sản xuất giá trị thặng dư dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, điều mà các bậc tiền bối của ông chưa làm được. Mác đã khẳng định: về bản chất, lợi nhuận là hình thái thần bí hoá của giá trị thặng dư.Mác viết: “Giá trị thặng dư, hay là lợi nhuận chính là phần dôi ra ấy của giá trị hàng hoá so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá so với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng hoá’’ Để vạch rõ sự hình thành lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa C.
Mác bắt đầu từ chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giá trị của hàng hoá sản xuất ra gồm: C+V+m C: là tiêu hao tư liệu sản xuất tồn tại dưới hình thức tiêu hao nguyên, nhiên liệu, hao mòn máy móc thiết bị. V: là bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động, là tiêu hao lao động sống m: là giá trị thặng dư, là giá trị do người lao động tạo ra nhưng không được trả công. Nhà tư bản chỉ phải bỏ ra một lượng tư bản là C + V, ở đây C+ V được 8 gọi là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa (kí hiệu là K).
Khi đưa hàng hoá ra trao đổi trên thị trường theo quy luật giá trị, giá bán bằng với giá trị hàng hoá C + V + m. Do vậy mà nhà tư bản thu được một khoản tiền lớn hơn chi phí mà họ bỏ ra. Số chênh lệch này được gọi là lợi nhuận (kí hiệu là P). Giá trị hàng hoá như vậy có thể viết thành K + P.