CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN. Những lý luận cơ bản về hoạt đông giao nhận.1 Khái niệm: Ngành thương mại của thế giới tăng trưởng gần gấp đôi trong hơn 2 thập niên qua không thể không kể đến sự đóng góp quan trọng của ngành vận tải ngoại thương và nghiệp vụ giao nhận hàng hóa. Cùng với sự lớn mạnh và ngày càng hoàn thiện của ngành vận tải thì nghiệp vụ giao nhận (dịch vụ giao nhận) cũng phát triển và từng bước hoàn thiện mình hơn. Theo giáo sư Ba Lan Kunest viết trong cuốn sách “Kỹ thuật thương mại hàng hải”: “giao nhận bao gồm các dịch vụ liên quan đến vận tải, nhưng không phải do mình tự thực hiện vận tải mà là đảm nhận gởi hàng bằng đường bộ, đường sông, đường biển, đường không tức là giao hàng đó cho người vận tải, bao gồm giải quyết mọi thủ tục có liên quan và thực hiện các công việc cần thiết khác”.
Theo điều 163 luật Thương mại Việt Nam ban hành có viết: “dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ hàng hóa nhận hàng từ người gởi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục giấy tờ và làm các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác”. Tuy nhiên đến năm 2005, Quốc hội khóa XI có sự thay đổi về luật Thương mại vào ngày 14/06/2005 thì dịch vụ giao nhận được hiểu theo dịch vụ Logistics. Theo điều 223 về dịch vụ logistics: “dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục Hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc”.
Nói một cách khác thì dịch vụ giao nhận là chuỗi các công việc nhằm đưa hàng hóa từ bên gởi hàng đến bên nhận hàng một cách an toàn với trách nhiệm và nghĩa vụ của bên tổ chức thực hiện dịch vụ giao nhận. Chuỗi công việc này được thực hiện đã thông qua các bên có liên quan (Hải quan, cảng vụ, hãng tàu.2 Phân loại giao hàng: a. Căn cứ vào phạm vi hoạt động: Giao nhận Quốc tế Giao nhận nội địa b. Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh: Giao nhận thuần túy Giao nhận tổng hợp c.
Căn cứ vào phương tiện vận tải: Giao nhận bằng đường biển; Giao nhận hàng không; Giao nhận đường thủy; Giao nhận đường sắt; Giao nhận ô tô; Giao nhận bưu điện; Giao nhận đường ống; Giao nhận vận tải liên hợp. vận tải đa phương thức. Căn cứ vào tính chất giao nhận: Giao nhận riêng là hoạt động do người kinh doanh xuất nhập khẩu tự tổ chức, không sử dụng lao vụ của dịch vụ giao nhận. Giao nhận chuyên nghiệp là hoạt động của tổ chức công ty chuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận theo sự ủy thác của khách hàng.3 Những đặc điểm của ngành giao nhận vận tải: Dịch vụ chính trong giao nhận vận tải có thể chia làm 2 nhóm chính: nhóm cung cấp dịch vụ hậu cần và nhóm thực hiện tổ chức vận chuyển hàng hóa bằng phương tiện vận chuyển của mình hoặc thuê của người khác.
Dịch vụ giao nhận chỉ được hình thành khi có nhu cầu vận chuyển hàng hóa của các chủ hàng. Dịch vụ giao nhận được thực hiện dựa vào 3 yếu tố chính: hàng hóa, cơ sở vật chất, hạ tầng và nguồn nhân lực. 6 Sản phẩm trong dịch vụ giao nhận không phải là làm biến đổi hình dạng và tính năng của hàng hóa ban đầu thành một loại hàng hóa mới mà sản phẩm của dịch vụ giao nhận là sản phẩm đặc biệt_sản phẩm vận tải.4 Vai trò của hoạt động giao nhận: 1.1 Vai trò của các doanh nghiệp: Dịch vụ giao nhận phát triển đã góp một phần không nhỏ trong việc phát triển của các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Dịch vụ giao nhận giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực hiện hợp đồng mua bán một cách dễ dàng, đúng thời gian giao hàng đã quy định trong hợp đồng, đồng thời cũng giúp cho việc thông quan hàng hóa nhanh chóng hơn.
Dịch vụ gom hàng lẻ của các công ty chuyên dịch vụ giao nhận giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể xuất khẩu các lô hàng mình muốn xuất đi cũng như nhập các lô hàng mà mình cần với mức phí thấp hơn. Dịch vụ giao nhận còn giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí thuê các phương tiện vận tải, chi phí trong bộ máy nhân sự. nhất là các doanh nghiệp có các lô hàng lẻ muốn xuất đi, thông qua dịch vụ giao nhận sẽ giúp các lô hàng lẻ này vào 1 container để có thể giảm chi phí thuê container cũng như chi phí vận chuyển và các chi phí kèm theo. Tiết kiệm thời gian cũng như rủi ro trong việc làm các thủ tục giấy tờ để hàng được xuất đi hoặc nhập về tránh các chi phí phát sinh khi hàng lưu kho, lưu bãi tại Cảng quá lâu.
Giúp cho hàng hóa của doanh nghiệp lưu thông nhanh hơn, vòng vốn quay nhanh hơn và có xu hướng phát triển hơn.2 Vai trò đối với hãng tàu: Dịch vụ giao nhận giúp các hãng tàu tiết kiệm được những chi phí đáng lẽ phải bỏ ra khi sử dụng phương tiện, nhân lực để làm hàng lẽ. Không sợ bị thất tiền cước của chủ hàng riêng lẽ vì đã có người làm dịch vụ giao nhận lo. Tận dụng được khả năng chuyên chở do người gom hàng giao cho người chuyên chở nguyên container đầy hàng. Tiết kiệm được thời gian, giấy tờ cũng như hao phí do hao mòn phương tiện vận chuyển khi thực hiện các lô hàng lẻ.3 Vai trò đối với nền kinh tế: Giúp hàng hóa trong nước lưu thông nhanh hơn, lượng hàng tồn kho của các doanh nghiệp ít giúp cho kinh tế đất nước phát triển.
Làm giảm giá thành hàng xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh với các nước trên thị trường quốc tế. Giảm một cách đáng kể lượng ngoại tệ đi ra nước ngoài. Những quy định pháp lý về hoạt động giao nhận và nguyên tắc giao nhận hàng xuất nhập khẩu tại Cảng biển Việt Nam.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động giao nhận: Hiện nay, chưa có một định nghĩa cụ thể cho hoạt động giao nhận và chưa có một bộ luật cụ thể áp dụng chung cho hoạt động giao nhận trên toàn thế giới, nhưng không vì thế mà hoạt động giao nhận diễn ra một cách tự nhiên, một cách không có trật tự. Mà nó được hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý của từng quốc gia, các quy định của các tổ chức, các hiệp hội giao nhận đưa ra.1 Các cơ quan tham gia Cơ quan quản lý nhà nước Các bộ chủ quản; Các tổ chức xuất nhập khẩu; Hải quan; Kiểm dịch động thực vật; Kiểm nghiệm, giám định; Công an biên phòng.2 Các tổ chức dịch vụ có liên quan Đại lý hãng tàu; Các công ty giao nhận, kiểm kiện.; Dịch vụ xếp/dỡ; Kho hàng ga, cảng… Dịch vụ bảo hiểm; Dịch vụ ngân hàng… 8 2.1 Các văn bản của nhà nước: Nhà nước Việt Nam đã ban hành khá nhiều các văn bản qui phạm pháp luật liên quan đến vận tải, giao nhận như: Các văn bản qui định tàu bè nước ngoài ra vào các cảng quốc tế của Việt Nam Các văn bản qui định trách nhiệm giao nhận hàng hóa của các đơn vị, doanh nghiệp… Luật quốc gia điều chỉnh mối quan hệ phát sinh từ các hợp đồng mua bán, vận tải, bảo hiểm, giao nhận, xếp dỡ… 2.2 Các luật lệ quốc tế (international Law) Các công ước (convention) Các hiệp ước (treaty) Các hiệp định (Agreement) Các nghị định thư (Protocol) Các quy chế (Status) Các định ước (Act)… Về buôn bán, vận tải, bảo hiểm.mà việc giao nhận bắt buộc phải phù hợp mới bảo vệ được quyền và lợi ích của chủ hàng.3 Nguyên tắc giao nhận hàng xuất nhập khẩu tại Cảng biển Việt Nam: Việc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cảng biển là do Cảng biển tiến hành trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng và người được chủ hàng ủy thác với Cảng.
Đối với những hàng hóa không qua Cảng (không lưu kho tại Cảng) thì có thể do các chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác giao nhận trực tiếp với người vận tải (tàu) (quy định mới từ 1991). Trong trường hợp đó chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác phải kết toán trực tiếp với người vận tải và chỉ thỏa thuận với Cảng về địa điểm xếp dỡ, thanh toán các chi phí có liên quan. 9 Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi Cảng là do Cảng tổ chức thực hiện. Trường hợp chủ hàng muốn đưa phương tiện vận tải vào xếp dỡ thì phải thỏa thuận với Cảng và phải trả các lệ phí, chi phí liên quan cho Cảng.
Khi được ủy thác giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu với tàu, Cảng nhận hàng bằng phương thức nào thì phải giao hàng bằng phương thức đó. Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa khi hàng đã ra khỏi kho bãi, Cảng. Khi nhận hàng tại Cảng thì chủ hàng hoặc người được ủy thác phải xuất trình những chứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận hàng và phải nhận được một cách liên tục trong một thời gian nhất định những hàng hóa ghi trên chứng. Ví dụ: vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan… Việc giao nhận có thể do Cảng làm theo sự ủy thác hoặc do chủ hàng trực tiếp làm.
Nhiệm vụ các bên tham gia giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu: a. Nhiệm vụ của Cảng: Ký hợp đồng xếp dỡ, giao nhận, bảo quản, lưu kho hàng hóa với chủ hàng. Hợp đồng có 2 loại: Hợp đồng ủy thác giao nhận. Hợp đồng thuê mướn: chủ hàng thuê Cảng xếp dỡ vận chuyển, lưu kho, bảo quản hàng hóa.
Giao hàng xuất khẩu cho tàu và nhận hàng nhập khẩu từ tàu nếu được ủy thác. Kết toán với tàu về việc giao nhận hàng hóa và lập các chứng từ cần thiết khác để bảo vệ quyền lợi của các chủ hàng.