CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp có thu 1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động sự nghiệp 1. Khái niệm hoạt động sự nghiệp “Sự nghiệp” với ý nghĩa thông thường nhất là chỉ những công việc có lợi ích chung và lâu dài cho xã hội.
Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhưng nó tác động trực tiếp đến lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội. Hoạt động sự nghiệp ở nước ta là những hoạt động văn hoá thông tin, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế, thể dục thể thao. được quy định tại Nghị định số 73/CP ngày 24/12/1960 về điều lệ tài vụ sự nghiệp văn xã. Trong tác phẩm của mình, Mác và Ăngghen khi nghiên cứu xã hội như một hệ thống diễn biến liên tục đã nêu trong xã hội có ít nhất 5 hệ thống: - Hệ thống sản xuất vật chất làm chức năng chủ yếu bảo đảm sự trao đổi vật chất giữa con người và thiên nhiên.
- Hệ thống tái sản sinh và phát triển về mặt sinh học của con người, bao gồm cả các hệ thống tổ chức gia đình cưới hỏi, hệ thống dịch vụ, y tế và rèn luyện thân thể, chức năng của nó là duy trì loài người. 4 - Hệ thống sản xuất tinh thần, làm chức năng bồi dưỡng con người về mặt tri thức, tình cảm và đạo đức để trở thành những thành viên tích cực của xã hội. - Hệ thống giao tiếp xã hội làm chức năng liên kết tất cả mọi người trong cộng đồng xã hội, giúp cho xã hội hoạt động được như một hệ thống hoàn chỉnh, đồng thời cũng giúp tạo thành những tầng lớp xã hội nhỏ hơn trong xã hội lớn. - Hệ thống tổ chức và quản lý làm chức năng phối hợp sự hoạt động của các hệ thồng nhỏ trong hệ thống xã hội lớn nói chung.
Như vậy hoạt động sự nghiệp có liên quan đến toàn bộ hoạt động của xã hội loài người. Tuy nhiên mặc dù trong xã hội tồn tại nhiều loại hoạt động khác nhau nhưng nếu quy theo tính chất thì có hai loại hoạt động lớn là: hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động sự nghiệp. Điểm khác nhau cơ bản giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động sự nghiệp là ở chỗ: hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu tạo ra sản phẩm vật chất cho xã hội, mang lại lợi ích trực tiếp cho chủ thể tổ chức ra hoạt động đó. Ngược lại hoạt động sự nghiệp chủ yếu cung cấp các dịch vụ công cho xã hội mà không vì mục đích sinh lợi thoả mãn nhu cầu chung, vì lợi ích của cả cộng đồng về mặt kinh tế cũng như xã hội.
Từ cách nhìn nhận như vậy, có thể coi hoạt động sự nghiệp chủ yếu mang ý nghĩa phục vụ cho hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội. Những hoạt động phục vụ cho hoạt động kinh tế gọi là hoạt động sự nghiệp kinh tế. Những hoạt động phục vụ cho hoạt động văn hoá xã hội gọi là hoạt động sự nghiệp văn hoá xã hội. Qua đó, chúng ta thấy rằng hoạt động sự nghiệp thuộc phạm trù thượng tầng kiến trúc nhưng nó có khả năng điều chỉnh hạ tầng cơ sở.
Đặc điểm hoạt động sự nghiệp Hoạt động sự nghiệp có các đặc điểm cơ bản sau: - Hoạt động sự nghiệp gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là tạo ra các hàng hoá công cộng ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội. Nhờ sử dụng những hàng hoá công cộng do hoạt động sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao. Hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục, thể thao đem đến tri thức và đảm bảo sức khỏe cho lực lượng lao động, tạo điều kiện cho lao động có chất lượng ngày càng tốt hơn; hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hoá thông tin mang lại những hiểu biết cho con người về tự nhiên, xã hội tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống…Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội.
- Hoạt động sự nghiệp nói chung không nhằm mục đích lợi nhuận trực tiếp, nhất là những hoạt động sự nghiệp do Nhà nước tiến hành Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hoá cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội. Nhưng việc cung ứng những hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường. Nhờ đó, sẽ hỗ trợ cho các ngành kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo 6 nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân.
- Hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước. Trong kinh tế thị trường, Chính phủ tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: chương trình xóa mù chữ, chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, chương trình phòng chống AIDS, chương trình phòng chống tội phạm, chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình phủ song phát thanh truyền hình…Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả. Nếu để tư nhân thực hiện, vì mục tiêu lợi nhuận có thể sẽ hạn chế đến tiêu dung trong xã hội và do đó xã hội không thể phát triển cân đối được.
Đơn vị sự nghiệp có thu trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu Đơn vị sự nghiệp là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, những hoạt động này nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội, mang tính chất phục vụ là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận. Những đơn vị sự nghiệp trong quá trình hoạt động sự nghiệp được phép thu phí để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động. Hiện nay có 2 loại hình đơn vị sự nghiệp là đơn vị sự nghiệp không có thu và đơn vị sự nghiệp có thu.
7 Đơn vị sự nghiệp không có thu là đơn vị do nhà nước thành lập được đảm bảo hoàn toàn nhu cầu tài chính cho đơn vị hoạt động để cung cấp dịch vụ cho xã hội tiêu dùng, đơn vị không thu một khoản phí, lệ phí nào. Những hoạt động này thường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội, phạm vi tiêu dùng rộng rãi và chỉ có Nhà nước mới có thể thực hiện được một cách hiệu quả nhất. Thuộc về những hoạt động này như: các hoạt động về văn hoá tuyên truyền, giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế cho người nghèo, đảm bảo xã hội. Đơn vị sự nghiệp có thu là đơn vị được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập mà nhu cầu tài chính đảm bảo cho đơn vị hoạt động ngoài việc Nhà nước cung cấp còn được thu một phần dưới dạng phí, lệ phí và các khoản đóng góp của người tiêu dùng để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung tái tạo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị.
Những hoạt động này thường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và đời sống mà người tiêu dùng có thể thấy ngay hiệu quả sử dụng dịch vụ mang lại và nếu không có cũng sẽ không đạt được lợi ích mong muốn. Đơn vị sự nghiệp có thu được xác định bởi các tiêu thức cơ bản sau: - Do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập mà trong đó chủ yếu là do cơ quan hành chính nhà nước thành lập. Căn cứ vào vị trí và phạm vi hoạt động mà các đơn vị sự nghiệp có thu đó có thể do Thủ tướng Chính phủ, hoặc Bộ trưởng Bộ quản lý ngành, hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp ra quyết định thành lập. - Trong quá trình hoạt động được Nhà nước cho phép thu các loại phí để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung tái tạo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị.
8 - Nhằm cung cấp dịch vụ công cho xã hội (thực hiện hoạt động sự nghiệp được nhà nước uỷ quyền) không nhằm mục đích sinh lợi. Dịch vụ công là những hoạt động vì lợi ích chung. Dịch vụ công có những dấu hiệu cơ bản sau: + Là những hoạt động phục vụ lợi ích tối cần thiết cho xã hội, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người, đảm bảo cuộc sống bình thường và an toàn. + Những hoạt động này về cơ bản do các tổ chức được Nhà nước uỷ quyền đứng ra thực hiện (có thể nhà nước, có thể tư nhân), song Nhà nước vẫn chịu trách nhiệm cuối cùng về những hoạt động này.
Bởi với vai trò là người bảo đảm công bằng xã hội, Nhà nước phải có nghĩa vụ bảo đảm những mục tiêu chính của dịch vụ công. + Là những hoạt động theo pháp luật công nên mọi đối tượng thụ hưởng đều có điều kiện và khả năng như nhau, không phân biệt hoàn cảnh cụ thể về xã hội, chính trị hay kinh tế.