CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số lý luận về trang trại, trang trại chăn nuôi 1. Khái niệm về trang trại Trang trại là một trong năm hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp cơ bản nhất xét về mặt quan hệ sở hữu, đặc trưng của hình thức tổ chức sản xuất dưới dạng trang trại gia đình: đất đai, tư liệu sản xuất, kể cả lao động thuộc sở hữu của hộ gia đình. Trang trại là: - Cơ sở sản xuất hay doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp (gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) - Dựa trên nền tảng kinh tế hộ nông dân - Mục đích sản xuất hàng hóa là chủ yếu - Được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê phần lớn hoặc hầu hết lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường.
- Được Nhà nước bảo hộ theo luật định [1]. Khái niệm về kinh tế trang trại Theo Nghị định số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại, đã quy định: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản” Theo thông tư số 27/2011/TT-BNNPHNT ngày 03 tháng 04 năm 2011 của BNNPTNT hướng dẫn tiêu chí xác định và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại như sau: “Điều 3. Phân loại trang trại 1. Các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau: a) Trang trại trồng trọt; b) Trang trại chăn nuôi; c) Trang trại lâm nghiệp; d) Trang trại nuôi trồng thủy sản; e) Trang trại tổng hợp.
Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm; trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là trang trại tổng hợp. Quyền lợi và nghĩa vụ của chủ trang trại Chủ trang trại được hưởng các chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định hiện hành. Tiêu chí xác định kinh tế trang trại Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau: 1. Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: - 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; - 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại; b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm.
Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1000 triệu đồng/năm trở lên; 3. Đối với cơ sở sản xuất lâm nghệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên. ∗Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp, nó mang những đặc trưng sau đây: - Mục đích sản xuất nông sản hàng hóa theo nhu cầu của thị trường là chủ yếu - Hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại được tiến hành trên cơ sở các yếu tố sản xuất nhất là đất đai và vốn được tập trung với quy mô nhất định đáp ứng theo yêu cầu của phát triển sản xuất hàng hóa. - Có cách thức tổ chức và quản lý sản xuất tiến bộ trên cơ sở chuyên môn hóa sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ KHCN, hoạch toán kinh doanh và luôn tiếp cận với thị trường.
- Chủ trang trại là người luôn có ham muốn là giàu, có kinh nghiệm sản xuất, có hiểu biết về KHCN và kiến thức nhất định về quản lý sản xuất phù hợp với cơ chế thị trường. - Các trang trại đều thuê mướn lao động [1]. ∗Vai trò của kinh tế trang trại chăn nuôi Ở nước ta, kinh tế trang trại chăn nuôi có vai trò hết sức quan trọng trong n 6 sự nghiệp đất nước. Mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây vai trò của nó đã thể hiện rõ nét cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Về mặt kinh tế các TTCN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún và thâm canh cao. Mặt khác thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn. Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế TT ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác, sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với kinh tế nông hộ. Do vậy phát triển kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho lao động. Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn, tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh. Phát triển kinh tế trang trại góp phần giải quyết các vấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn nước ta. Về mặt môi trường, do sản xuất kinh doanh tự chủ, vì lợi ích thiết thực, lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái trang trại và sau đó là phạm vi từng vùng.
∗ Quan điểm phát triển kinh tế trang trại thời kỳ Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa ở Việt Nam: - Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản. - Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; tạo việc làm; tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư; xây dựng nông thôn mới. - Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa trong nông nghiệp, nông thôn [9]. Một số vấn đề về tiêu thụ 1.
Khái niệm, vai trò và nội dung của tiêu thụ sản phẩm ∗ Khái niệm Tiêu thụ sản phẩm (theo nghĩa rộng) là một quá trình hay tổng thể các biện pháp kinh tế kỹ thuật nhằm đưa sản phẩm trở thành hàng hoá trên thị trường. Tiêu thụ sản phẩm (theo nghĩa hẹp) là việc chuyển hoá hình thái giá trị và quyền sở hữu sản phẩm nhằm đáp ứng hiệu quả của sản xuất. Theo phạm vị này thì tiêu thụ sản phẩm đồng nghĩa với bán hàng, ứng với mỗi cơ chế quản lý kinh tế công tác tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng các hình thức khác [16]. * Mục đích của hoạt động tiêu thụ sản phẩm Quá trình tiêu thụ sản phẩm nhằm vào 3 mục đích chính như sau: - Đảm bảo việc tiêu thụ sản phẩm theo đúng kế hoạch, đúng hợp đồng sản xuất kinh doanh dựa trên quan điểm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khách hàng.
- Đảm bảo uy tín doanh nghiệp, tăng niềm tin và gắn bó lâu dài với khách hàng. - Thu hút nhiều khách hàng mới cho doanh nghiệp thông qua các công tác như giao dịch, phương thức phân phối, thủ tục giao nhận, quảng cáo, … đối với khách hàng dựa trên quan điểm “khách hàng là thượng đế”[16]. * Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm được xem xét trên 2 phương diện đó là: HQKT và phương diện xã hội. Về phương diện HQKT đối với DN: Tiêu thụ sản phẩm quyết định sự thành bại và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của DN.
Khi sản phẩm của DN được tiêu thụ tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn nhu cầu nào đó, sức tiêu thụ sản phẩm của NTD phản ánh uy tín của DN. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ, chính xác nhất năng lực tổ chức sản xuất, những điểm mạnh và điểm yếu của DN. Tiêu thụ sản phẩm là yếu tố quan trọng để DN đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh, tạo thế đứng vững chắc trên thương trường. Nếu tiêu thụ bị đình trệ thì mọi hoạt động sản xuất khác cũng bị đình trệ.
Thông qua tiêu thụ sản phẩm, mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng bền chặt hơn. Về phương diện xã hội: Tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân đối cung cầu vì nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với những cân bằng những tương quan tỷ lệ nhất định, sản phẩm tạo ra được tiêu thụ tức là sản xuất đang diễn ra một cách bình thường trôi chảy tránh sự mất cân đối, giữ được n 8 bình ổn trong xã hội. Mặt khác, tiêu thụ sản phẩm là phương tiện cạnh tranh hữu hiệu nhất. Tóm lại : Tiêu thụ sản phẩm là một trong những khâu vô cùng quan trọng của quá trình sản xuất và tái sản xuất của DN.
Vì vậy, mọi hoạt động nghiệp vụ khác của DN phải tập trung hỗ trợ cho công tác tiêu thụ sản phẩm [16]. Những nội dung nghiên cứu của tiêu thụ sản phẩm ∗ Nghiên cứu về thị trường Nghiên cứu thị trường là việc xác định nhu cầu thị trường, xác định những sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp cần sản xuất kinh doanh để mang lại hiệu quả cao nhất. Nghiên cứu thị trường là bước khởi đầu quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của bất kì một DN nào.