Chương 1. Những vấn đề cơ bản về công tác giải phóng mặt bằng. Thực trạng chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Một số giải pháp thúc đẩy tiến độ giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
10 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 1.1Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết của giải phóng mặt bằng: 1.1 Khái niệm: Trong nhiều năm qua, giải phóng mặt bằng luôn là bài toán khó giải và là vấn đề bức xúc tại nhiều dự án, công tác giải phóng mặt bằng lúc nào cũng được các chủ đầu tư đặt lên hàng đầu, là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp tác động tới mọi mặt của đời sống xã hội. Giải quyết không tốt, không thỏa đáng quyền lợi của người bị thu hồi đất dễ dẫn đến bùng nổ những khiếu kiện tập thể gây mất ổn định đời sống, chính trị xã hội, ảnh hưởng đến tiến độ công trình nói riêng và an ninh của quốc gia nói chung. Việt Nam là nước đang phát triển, nên tốc độ tiến hành đầu tư xây dựng công trình đường, cầu, Khu công nghiệp. đang diễn ra ngày càng cao nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế, lợi ích của quốc gia.
Do vậy, công tác giải phóng mặt bằng diễn ra ở mọi nơi, luôn là vấn đề mà Nhà nước phải quan tâm. Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, vật kiến trúc, cây cối hoa màu trên đất và một số bộ phân dân cư trên phần đất nhất định được Nhà nước quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới các công trình. Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng đến khi bàn giao mặt bằng sạch cho chủ đầu tư. Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định đến tiến độ xây dựng công trình, là khâu đầu tiên trong việc thực hiện đầu tư xây dựng một dự án.
Trong đó đền bù thiệt hại và ổn định đời sống cho người có tài sản bị ảnh hưởng là vấn đề nhạy cảm, phức tạp có tính quyết định đến tiến độ của dự án. Đối với nước ta, nhu cầu đất đai để xây dựng các khu công nghiệp, công trình giao thông, thủy lợi, an ninh quốc phòng là rất lớn. Diện tích đất để sử dụng vào mục đích xây dựng các công trình, mở rộng đô thị, mở rộng hệ thống giao thông, các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, công trình quốc 11 phòng an ninh chủ yếu là lấy từ đất nông nghiệp, đất làm nhà ở tại khu vực nông thôn và ven đô thị. Nếu Nhà nước không có chính sách và những quy định phù hợp thì dễ dẫn đến tình trạng sau mỗi lần thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng sẽ có thêm nhiều hộ gia đình, cá nhân lâm vào tình trạng không còn ruộng đất, tư liệu sản xuất chính để nuôi sống gia đình và bản thân họ.
Thực tế hiện nay cho thấy, công tác giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, tác động tới mọi mặt của đời sống , kinh tế xã hội nhân văn của nhiều người, của cả cộng đồng dân cư. Giải quyết không tốt, không thõa đáng quyền lợi của người có đất bị thu hồi dễ dẫn đến việc bùng phát khiếu kiện, gây ra mất ổn định về kinh tế, xã hội, chính trị nói chung. Quá trình thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án luôn phải giải quyết dung hòa mâu thuẫn về lợi ích của hai nhóm đối tượng: + Người được giao đất (trong đó có cả cơ quan Nhà nước) luôn tìm cách giảm chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng nhằm hạ giá thành xây dựng, tiết kiệm chi phí sản xuất. + Người bị thu hồi đất luôn đòi hỏi được trả một khoản bồi thường càng nhiều càng tốt mà trước hết phải thỏa đáng, mặt khác trong nội bộ những người được đền bù có người chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, có người chấp hành chưa tốt, do đó đòi hỏi phải xử ly sao cho công bằng cũng là một việc hết sức khó khăn.
Giải phóng mặt bằng là một khái niệm suy rộng của công tác thu hồi đất, bao gồm các công đoạn: từ bồi thường cho đối tượng sử dụng đất, di chuyển người dân tạo mặt bằng cho triển khai dự án đến việc hỗ trợ cho người bị thu hồi đất, tái tạo lại chổ ở, đào tạo việc làm, ổn định cuộc sống cho người dân. Giải phóng mặt bằng vừa mang tính thời vụ, vừa mang tính cấp bách. Trong những năm gần đây vấn đề này trở thành trung tâm của dư luận, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, nhà đầu tư. Thực tế chứng minh rằng làm tốt công tác giải phóng mặt bằng không chỉ tạo được môi trường thông thoáng cho phát triển, thu hút các 12 nhà đầu tư mà còn góp phần làm lành mạnh nhiều quan hệ xã hội, cũng cố được lòng tin của nhân dân, khắc phục tệ quan liêu tham nhũng.
Theo từ điển Tiếng Việt thì từ đền bù có nghĩa là: “Trả lại đầy đủ tương xứng với mất mát hoặc sự vất vả”, điều đó có nghĩa là: + Không phải mọi khoản đền bù đều bằng tiền. + Sự mất mát của người bị thu hồi không chỉ chịu về vật chất mà còn cả tinh thần vì phải tái định cư. + Về mặt hành chính, đây là một quá trình không phải tự nguyện mà còn đói hỏi đến sự hi sinh quyền lợi, không phải là một sự đền bù ngang giá tuyệt đối. Từ những nhận thức có thể thấy bản chất của công tác giải phóng mặt bằng không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất, thu hồi đất mà còn phải đảm bảo lợi ích về sau của nhân dân sau khi di chuyển đến nơi ở mới, phải ổn định lại cuộc sống người dân sau giải phóng mặt bằng.2 Đặc điểm của công tác giải phóng mặt bằng: - Tính đa dạng: + Về loại đất: Đất đai tham gia vào tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân và ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Theo từng ngành sản xuất, từng lĩnh vực của đời sống, đất đai được phân thành các loại khác nhau như sau: Đất nông nghiệp là đất được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Đất lâm nghiệp là đất được sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp như trồng rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp. Đất khu dân cư nông thôn là loại đất xây dựng nhà ở và công trình phục vụ cho sinh hoạt ở nông thôn. Đất đô thị là đất nội thành, thị trấn được sử dụng để xây dựng nhà ở, trụ sở các cơ quan, tổ chức, các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và vào các mục đích khác.
13 Đất chuyên dùng là đất được sử dụng vào mục đích không phải là nông nghiệp, lâm nghiệp, nhà ở, bao gồm: đất xây dựng các công trình văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, dịch vụ, đất sử dụng cho nhu cầu quốc phòng, an ninh, đất làm đồ gốm, gạch ngói và các vật liệu xây dựng khác, đất đai di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất có mặt nước sử dụng vào mục đích không phải là nông nghiệp. Đất chưa sử dụng là đất chưa có đủ điều kiện hoặc chưa xác định để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp, chưa được xác định là đất khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng và Nhà Nước chưa giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhấn sử dụng ổn định lâu dài. + Về đền bù, hỗ trợ: Mỗi dự án đều được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân trí nhất định: Đối với khu vực đô thị, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng có những đặc điểm nhất định, chỉ một thay đổi nhỏ về chính sách giải phóng mặt bằng cũng sẽ tác động rất lớn đến ngân sách Nhà nước, đời sống người dân. Đối với khu vực vùng ven đô thị, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề kinh doanh phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, buôn bán nhỏ.
quá trình giải phóng mặt bằng và giá đất tính bồi thường, hỗ trợ cũng khác nhau rất dễ dàng phát sinh khiếu kiện. Do đây là khu giáp ranh giữa thành thị và nông thôn, sẽ không tránh khỏi sự so sánh về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng giữa hai khu vực. Còn đối với khu vực nông thôn, hoạt động sản xuất chủ yếu của người dân là sản xuất nông nghiệp. Do đó công tác giải phóng mặt bằng và giá đất để áp dụng bồi thường, hỗ trợ cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng.
- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội đối với người dân. Ở nông thôn người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp mà đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng, trong khi đó trình độ sản 14 xuất của người dân còn thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp của người dân còn khó khăn, do đó tâm lý chung của người dân sống tại khu vực nông thôn là cố giữ được đất để sản xuất, không muốn mất đất sản xuất. Trước tình hình đó, công tác vận động, tuyên truyền người dân chấp thuận di chuyển là rất khó khăn. Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau: + Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân mà tâm lý chung của đa số mỗi người đều ngại di chuyển chổ ở.
+ Về nguồn gốc đất, thời gian sử dụng đất luôn là vấn đề phức tạp trong công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng.