Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại Việt Nam đặt ra yêu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên quy mô lớn nhằm phát triển hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, khu đô thị và các công trình công cộng. Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân; do đó, việc thu hồi đất nông nghiệp tác động trực tiếp đến sinh kế, cơ cấu việc làm và thu nhập của các hộ gia đình nông thôn.

Tại xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, việc thực hiện các dự án hạ tầng kỹ thuật và phúc lợi xã hội (như mở rộng đường giao thông, xây dựng trường học, Bệnh viện Lao và Bệnh viện 500 giường) đã làm giảm đáng kể quỹ đất sản xuất nông nghiệp. Mặc dù đóng vai trò là vành đai xanh cung cấp thực phẩm cho khu vực nội thành, công tác hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người dân mất đất tại địa phương còn gặp nhiều khó khăn do chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế. Khóa luận "Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tạo việc làm cho người dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất tại địa bàn xã Thịnh Đức thành phố Thái Nguyên" của tác giả Hoàng Quốc Trường (2022) được thực hiện nhằm phân tích thực trạng này và đề xuất các giải pháp khả thi.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản:

  • Mục tiêu chung: Tìm hiểu thực trạng việc làm cho người lao động nông thôn trong độ tuổi từ 15 đến 60 ở xã Thịnh Đức; đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm, tạo điều kiện ổn định cuộc sống và nâng cao thu nhập cho người lao động trên địa bàn.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá thực trạng lao động thông qua việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ở xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên sau khi bị thu hồi đất.
    2. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động nông thôn xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ dân sau thu hồi đất cùng vấn đề thu nhập và việc làm của người lao động trong các hộ gia đình này.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 02/2022 đến tháng 05/2022; số liệu thứ cấp được tổng hợp theo các báo cáo thống kê giai đoạn 2018 - 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về đất đai, thu hồi đất, việc làm và an sinh xã hội dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các khái niệm kinh tế học lao động:

  • Văn bản pháp luật và chính sách: Luật Đất đai qua các thời kỳ (1987, 1993, 2003, 2013); các Nghị định hướng dẫn như Nghị định số 64/CP (ngày 27/09/1993), Nghị định số 02/CP (ngày 15/01/1994), Nghị định số 01/CP (ngày 04/01/1995) và Nghị định số 69/2009/NĐ-CP (ngày 13/08/2009 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư); các điều khoản quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Điều 100), thời hạn sử dụng đất, các trường hợp thu hồi đất do vi phạm (Điều 64), điều kiện bồi thường giải phóng mặt bằng (Điều 75) và giải quyết tranh chấp đất đai (Điều 202 Luật Đất đai).
  • Khung khái niệm: Thu hồi đất; việc làm (việc làm chính, việc làm phụ, việc làm hợp lý, việc làm hiệu quả); thất nghiệp; thiếu việc làm (phân định thiếu việc làm hữu hình và thiếu việc làm vô hình); đặc điểm cung - cầu lao động nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội, Nghị quyết Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Thịnh Đức giai đoạn 2018 - 2021, niên giám thống kê và tài liệu chuyên ngành.
    • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua phiếu khảo sát trực tiếp từ 90 đối tượng (gồm cán bộ quản lý cấp xã và các hộ dân). Trong tổng số 256 hộ bị thu hồi đất tại 3 thôn (Thịnh, Tân Đức, Đức Hòa), tác giả chọn mẫu ngẫu nhiên 60 hộ gia đình để điều tra sâu, phân thành 2 nhóm:
      • Nhóm I (40 hộ chỉ bị thu hồi đất nông nghiệp): Gồm 20 hộ bị thu hồi dưới 50% diện tích đất nông nghiệp và 20 hộ bị thu hồi từ 50% diện tích trở lên.
      • Nhóm II (20 hộ bị thu hồi hỗn hợp): Gồm các hộ bị thu hồi nhiều loại đất (đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất thổ cư).
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel (công cụ Sort & Filter) để tổng hợp; áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh (tuyệt đối, tương đối, bình quân) nhằm đánh giá sự biến động về quy mô diện tích đất, cơ cấu lao động và cơ cấu thu nhập trước và sau khi thu hồi đất.
  • Hệ thống chỉ tiêu sử dụng: Tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi; cơ cấu lao động theo ngành nghề; giá trị sản xuất bình quân; thu nhập bình quân/hộ; cơ cấu thu nhập theo từng ngành (trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh dịch vụ, tiền lương/làm thuê).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tế chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại xã Thịnh Đức, xác định rõ 2 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, đóng góp mới và bố cục 5 phần của khóa luận.

Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này tổng quan cơ sở lý luận về thu hồi đất, việc làm, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn và phân loại thất nghiệp/thiếu việc làm. Tác giả tổng hợp quá trình hoàn thiện chính sách đất đai tại Việt Nam qua các mốc Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2003, 2013 cùng các nghị định liên quan đến bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Đồng thời, phần này giới thiệu bối cảnh lịch sử hành chính xã Thịnh Đức (từ khi thuộc huyện Đồng Hỷ, sáp nhập vào TP. Thái Nguyên năm 1985, điều chỉnh địa giới năm 2004 đến việc sáp nhập các xóm năm 2019) và các bài học kinh nghiệm trong hỗ trợ vốn, kỹ thuật cho thanh niên nông thôn lập nghiệp.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đối với 60 hộ điều tra trên địa bàn 3 thôn, thiết kế phiếu hỏi sơ cấp, nguồn số liệu thứ cấp và hệ thống các công thức tính toán chỉ tiêu kinh tế, thu nhập, lao động bằng phần mềm Excel 2010.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương tập trung phân tích thực trạng sử dụng đất, biến động dân số, giá trị sản xuất và phân tích sâu số liệu khảo sát 60 hộ gia đình:

Tình hình biến động đất đai: Tổng diện tích tự nhiên của xã là 579,85 ha. Giai đoạn 2019 - 2021, diện tích đất nông nghiệp giảm từ 112,31 ha (chiếm 19,37%) xuống còn 20,10 ha (chiếm 3,47%), tương ứng mức giảm 92,21 ha (bình quân giảm 57,56%). Ngược lại, diện tích đất phi nông nghiệp tăng từ 280,04 ha (48,29%) lên 413,18 ha (71,26%) do xây dựng hạ tầng, bệnh viện và khu dân cư.

Loại đất Năm 2019 (ha) Cơ cấu 2019 (%) Năm 2020 (ha) Cơ cấu 2020 (%) Năm 2021 (ha) Cơ cấu 2021 (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 579,85 100,00 579,85 100,00 579,85 100,00
1. Đất nông nghiệp 112,31 19,37 51,48 8,88 20,10 3,47
- Đất trồng hàng năm 95,12 84,69 33,76 65,58 15,20 75,62
- Đất trồng cây lâu năm 14,69 13,08 15,62 30,34 3,70 18,41
- Đất nuôi trồng thuỷ sản 2,50 2,23 2,10 4,08 1,20 5,97
2. Đất lâm nghiệp 187,50 32,34 158,92 27,41 151,64 26,15
3. Đất phi nông nghiệp 280,04 48,29 369,45 63,71 413,18 71,26

Dân số và lao động toàn xã: Năm 2021, dân số toàn xã là 8.100 người (547 hộ). Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 80,45% (năm 2019) xuống 61,95% (năm 2021); lao động phi nông nghiệp tăng từ 19,55% lên 38,05%. Thu nhập bình quân đạt 35 triệu đồng/người/năm (đầu năm 2021), tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,56%.

Chuyển dịch cơ cấu lao động tại 60 hộ khảo sát: Sau thu hồi đất, tỷ lệ lao động làm nông nghiệp giảm mạnh ở tất cả các nhóm, trong khi tỷ lệ lao động làm thuê không ổn định (phụ hồ, mộc, phục vụ) tăng cao.

Nhóm hộ điều tra Tiêu chí Lao động Nông nghiệp (%) Lao động Làm thuê (%) Lao động Công nhân (%) Lao động Kinh doanh - Dịch vụ (%)
Nhóm I: Thu hồi <50% đất NN Trước THĐ 58,67 14,67 13,33 4,00
(n = 20 hộ; 75 LĐ) Sau THĐ 34,67 26,67 16,00 5,33
Nhóm I: Thu hồi >50% đất NN Trước THĐ 56,86 9,80 13,73 5,88
(n = 20 hộ; 51 LĐ) Sau THĐ 29,41 25,49 15,69 11,76
Nhóm II: Thu hồi hỗn hợp Trước THĐ 64,70 3,92 9,80 11,76
(n = 20 hộ; 51 LĐ) Sau THĐ 23,53 27,45 15,69 15,69

Biến động thu nhập bình quân/hộ:

  • Nhóm thu hồi <50% đất NN: Tổng thu nhập bình quân tăng nhẹ từ 64,40 triệu đồng/hộ lên 66,38 triệu đồng/hộ nhờ chuyển dịch sang chăn nuôi và dịch vụ; tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp giảm từ 39,52% xuống 34,09%.
  • Nhóm thu hồi >50% đất NN: Tổng thu nhập bình quân giảm từ 62,10 triệu đồng/hộ xuống 58,42 triệu đồng/hộ; thu nhập từ nông nghiệp giảm từ 43,16% xuống 32,21%.
  • Nhóm thu hồi hỗn hợp: Tổng thu nhập bình quân giảm từ 58,77 triệu đồng/hộ xuống 53,50 triệu đồng/hộ; thu nhập nông nghiệp giảm từ 50,31% xuống 31,78% (trong đó chăn nuôi chiếm tới 58,82% cơ cấu nông nghiệp còn lại).

Chương 4 cũng ghi nhận: Trong tổng thể các hộ bị ảnh hưởng, có 62,33% số hộ bị giảm thu nhập, chỉ 25% hộ có thu nhập tăng. Trung tâm giới thiệu việc làm đã hỗ trợ giới thiệu 328 lao động đi làm việc tại các nhà máy, khu công nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn tiền đền bù được người dân sử dụng để xây nhà hoặc gửi ngân hàng; tỷ lệ đầu tư cho học nghề và tái sản xuất còn rất thấp.

Phần 5: Định hướng, mục tiêu và một số giải pháp tạo việc làm cho người dân sau thu hồi đất

Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu:

  1. Đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, tăng cường đầu tư thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng chuyên canh tập trung có giá trị cao trên diện tích đất còn lại.
  2. Khuyến khích mở rộng ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ; nâng cao năng lực cán bộ khuyến nông; hỗ trợ người dân lập dự án nhỏ để tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi lãi suất thấp.
  3. Đẩy mạnh chính sách tư vấn, giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động; phối hợp với doanh nghiệp xuất khẩu lao động cung cấp thông tin pháp luật và định hướng nghề nghiệp.
  4. Đào tạo nghề gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường và khả năng tiếp nhận của các doanh nghiệp tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác định mức độ suy giảm đất sản xuất: Diện tích đất nông nghiệp xã Thịnh Đức giảm 92,21 ha (từ 112,31 ha năm 2019 xuống 20,10 ha năm 2021, tương ứng giảm 57,56%).
  • Làm rõ sự chuyển dịch cơ cấu việc làm tự phát: Sau thu hồi đất, lao động nông nghiệp giảm mạnh (từ mức 56,86% - 64,70% trước thu hồi xuống còn 23,53% - 34,67%). Lao động chuyển dịch chủ yếu sang làm thuê thời vụ (tăng lên mức 25,49% - 27,45%), tiềm ẩn nguy cơ thiếu việc làm và thu nhập bấp bênh do trình độ học vấn chủ yếu ở cấp II (chiếm 30,26% - 42,00%) và tỷ lệ qua đào tạo nghề thấp (9,68% - 26,32%).
  • Phản ánh thực trạng phân hóa thu nhập: Tỷ lệ hộ bị giảm thu nhập chiếm 62,33%, trong khi số hộ tăng thu nhập chỉ đạt 25%. Các hộ mất trên 50% đất sản xuất hoặc mất đất hỗn hợp đều sụt giảm thu nhập bình quân từ 3,68 đến 5,27 triệu đồng/hộ/năm.

Giải pháp và kiến nghị

  • Thành lập quỹ hỗ trợ việc làm và an sinh xã hội dành riêng cho các hộ thuộc diện thu hồi đất.
  • Hoàn thiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp bằng nhiều hình thức linh hoạt (tiền mặt, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp).
  • Xây dựng các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn phù hợp với độ tuổi và năng lực của lao động nông thôn mất đất, ưu tiên kết nối với các khu, cụm công nghiệp lân cận trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và Sông Công.

Đóng góp của đề tài

Tác giả đã cung cấp hệ thống số liệu điều tra thực nghiệm chi tiết về biến động lao động và thu nhập theo từng mức độ mất đất tại xã Thịnh Đức, chỉ ra hạn chế trong việc sử dụng tiền bồi thường (chủ yếu gửi tiết kiệm và xây dựng nhà ở, ít đầu tư sinh kế) làm căn cứ thực tiễn cho chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch chuyển đổi nghề nghiệp.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi điều tra chuyên sâu giới hạn ở mẫu 60 hộ gia đình thuộc 3 thôn trên địa bàn xã Thịnh Đức; thời gian theo dõi sau thu hồi đất còn ngắn (tập trung giai đoạn 2019 - 2021 và khảo sát đầu năm 2022); các công cụ phân tích dừng lại ở thống kê mô tả và so sánh trên phần mềm Excel, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng để lượng hóa tương quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với mức độ biến động thu nhập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên toàn thành phố Thái Nguyên; thực hiện các nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal study) để đánh giá tính bền vững sinh kế của hộ dân sau 5 - 10 năm thu hồi đất; phân tích hiệu quả kinh tế của các mô hình đào tạo nghề liên kết doanh nghiệp đối với lao động lớn tuổi.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị phát triển nông thôn và Quản lý đất đai trong việc tiếp cận phương pháp khảo sát hộ gia đình và phân nhóm đối tượng bị ảnh hưởng bởi dự án hạ tầng.

Đối với các cán bộ quản lý Nhà nước cấp xã, phường và cơ quan bồi thường giải phóng mặt bằng, phần phân tích nguyên nhân suy giảm thu nhập và các bảng dữ liệu về cơ cấu chi tiêu tiền đền bù tại Chương 4 là cơ sở thực tiễn để xây dựng phương án đào tạo nghề, định hướng sinh kế trước khi tiến hành thu hồi đất nông nghiệp.


Câu hỏi thường gặp

1. Quỹ đất nông nghiệp xã Thịnh Đức biến động như thế nào trong giai đoạn 2019 - 2021?

Theo số liệu thống kê của UBND xã Thịnh Đức, diện tích đất nông nghiệp giảm liên tục từ 112,31 ha (năm 2019) xuống 51,48 ha (năm 2020) và còn 20,10 ha (năm 2021). Tỷ trọng đất nông nghiệp trong tổng diện tích tự nhiên của xã giảm từ 19,37% xuống còn 3,47% (giảm 92,21 ha, tương ứng mức giảm 57,56% sau 3 năm) để phục vụ giải phóng mặt bằng cho các công trình hạ tầng và phúc lợi xã hội.

2. Mẫu điều tra 60 hộ gia đình bị thu hồi đất được phân chia theo tiêu chí nào?

Tác giả phân chia 60 hộ khảo sát (từ 256 hộ bị ảnh hưởng) thành 2 nhóm:

  • Nhóm I (40 hộ chỉ mất đất nông nghiệp): Chia thành 20 hộ mất dưới 50% diện tích đất nông nghiệp và 20 hộ mất từ 50% diện tích đất nông nghiệp trở lên.
  • Nhóm II (20 hộ mất đất hỗn hợp): Gồm các hộ bị thu hồi đồng thời cả đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất thổ cư.

3. Xu hướng chuyển dịch việc làm của người dân sau khi bị thu hồi đất diễn ra như thế nào?

Số lao động tiếp tục làm nông nghiệp giảm mạnh: Nhóm thu hồi <50% đất giảm từ 58,67% xuống 34,67%; nhóm thu hồi >50% đất giảm từ 56,86% xuống 29,41%; nhóm mất đất hỗn hợp giảm từ 64,70% xuống 23,53%. Lao động chuyển sang làm thuê thời vụ (phụ hồ, mộc, dịch vụ tự do) tăng mạnh ở cả 3 nhóm, lần lượt đạt 26,67%, 25,49% và 27,45% tổng số lao động.

4. Tác động của thu hồi đất đến thu nhập của các nhóm hộ ra sao?

  • Nhóm thu hồi <50% đất nông nghiệp có tổng thu nhập bình quân tăng nhẹ từ 64,40 triệu đồng/hộ lên 66,38 triệu đồng/hộ do mở rộng chăn nuôi và dịch vụ.
  • Nhóm thu hồi >50% đất nông nghiệp bị giảm thu nhập từ 62,10 triệu đồng/hộ xuống 58,42 triệu đồng/hộ.
  • Nhóm thu hồi hỗn hợp giảm thu nhập từ 58,77 triệu đồng/hộ xuống 53,50 triệu đồng/hộ.
  • Tính chung toàn bộ các hộ khảo sát, có 62,33% số hộ bị giảm thu nhập và chỉ 25% số hộ có thu nhập tăng.

5. Thực trạng sử dụng tiền đền bù và đào tạo nghề của người dân được ghi nhận ra sao?

Phần lớn hộ dân sau khi nhận tiền đền bù sử dụng vào việc gửi tiết kiệm ngân hàng và xây dựng, sửa chữa nhà ở; tỷ lệ đầu tư cho học nghề hoặc tái sản xuất rất thấp. Trình độ học vấn của người lao động sau thu hồi đất chủ yếu ở cấp II (30,26% - 42,00%), tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chỉ đạt từ 9,68% đến 26,32% và chủ yếu ở trình độ sơ cấp, trung cấp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Quốc Trường phản ánh thực trạng suy giảm sinh kế và việc làm của người dân xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên dưới tác động của quá trình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2019 - 2021. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động mang tính tự phát sang các công việc làm thuê bấp bênh cùng sự sụt giảm thu nhập ở 62,33% số hộ được khảo sát. Các giải pháp do tác giả đề xuất nhấn mạnh vào việc kết hợp thâm canh trên diện tích đất còn lại, hỗ trợ vốn vay phát triển dịch vụ phi nông nghiệp và đổi mới công tác đào tạo nghề theo nhu cầu thực tế của thị trường lao động.