CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LỢI NHUẬN 1. Một số khái niệm về lợi nhuận Một nền sản xuất chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có tích luỹ. Mà xét về mặt bản chất, tích luỹ là sử dụng một phần của cải xã hội tạo ra để tái đầu tư vào các yếu tố sản xuất nhằm tăng quy mô và năng lực của nền kinh tế. Muốn tích luỹ thì phải có lợi nhuận.
Thực tế một thời chúng ta đã không coi trọng lợi nhuận thậm chí coi nó là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản xấu xa. Lợi nhuận của doanh nghiệp luôn là một đề tài nghiên cứu, tranh luận của nhiều trường phái kinh tế và nhiều nhà kinh tế. Vì vậy, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận: • Chủ nghĩa trọng thương cho rằng: “Lợi nhuận được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông, lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không ngang giá, là sự lừa gạt”. • Chủ nghĩa trọng nông cho rằng: “Nguồn gốc của sự giàu có của xã hội lại là thu nhập trong sản xuất nông nghiệp”.
• Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh mà đại diện là Adam Smith cho rằng: “Lợi nhuận trong phần lớn trường hợp chỉ là món tiền thưởng cho việc mạo hiểm và cho lao động khi đầu tư tư bản”. Vì vậy, ông ta không nhận thấy được sự khác nhau giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư nên ông đã đưa ra quan điểm: “Lợi nhuận là hình thái khác của giá trị thăng dư”.Mác: Kế thừa có chọn lọc các nhân tố khoa học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển kết hợp với những phương pháp biện chứng duy vật, C.Mác đã xây dựng thành công lý luận về hàng hoá, sức lao SV : Phạm Thị Hải Anh 5 Lớp : K6HK1A Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS. Lê Đức Tố động, đây là cơ sở để xây dựng học thuyết giá trị thặng dư và ông đã kết luận rằng: “Giá trị thặng dư được quan điểm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng ra mang hình thái biến tướng là lợi nhuận”. Như vậy bản chất của lợi nhuận là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư, là kết quả lao động không được trả công do nhả tư bản chiếm lấy.
Tư bản thương nghiệp thuần tuý mặc dù không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư nhưng vẫn thu được lợi nhuận, sở dĩ tư bản thương nghiệp vẫn thu được lợi nhuận là vì được tư bản công nghiệp nhường cho một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản xuất để tư bản thương nghiệp thực hiện giá trị hàng hoá cho tư bản công nghiệp. Nhưng từ khi chúng ta chuyển đổi nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, lợi nhuận được coi là một tiêu chí quan trọng mà mỗi doanh nghiệp đều phải hướng tới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. • Từ góc độ của doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là người sản xuất hàng hóa, để đứng vững trên thị trường họ không thể không tính đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận, Theo GS.TS Đinh Văn Sơn (giáo trình Tài chính DNTM – Đại học Thương Mại) thì: lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập thu được và các khoản chi phí đã bỏ ra để đạt được thu nhập đó trong một thời kỳ nhất định.
Ta có công thức chung xác định lợi nhuận: Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Song bên cạnh đó, PGS.TS Trần Thế Dũng lại cho rằng: Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu đạt được với toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được kết quả đó SV : Phạm Thị Hải Anh 6 Lớp : K6HK1A Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS. Lê Đức Tố (theo giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp thương mại). Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 17 (thuế TNDN): Lợi nhuận kế toán là phần lãi hoặc lỗ của một kỳ, trươc khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. Chúng ta thấy có rât nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận nhưng hiểu theo một cách tổng quát thì: Lợi nhuận chính là khoản chênh lệch giữa thu nhập phát sinh trong một thời kỳ nhất định với chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó.
Nội dung nghiên cứu 1. Phân loại lợi nhuận Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú nhưng bao gồm ba hoạt động chính như sau: 1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí của hoạt động đó bao gồm toàn bộ sản phẩm, hàng hoá dich vụ đã thực hiện và thuế phải nộp theo quy định (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp). Doanh thu thuần: là toàn bộ số tiền bán thành phẩm, hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thi trường sau khi trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại(nếu có chứng từ hợp lệ).
Ngoài ra, trong doanh thu còn bao gồm các khoản trợ giá, phụ thu theo quy định của Nhà nước, giá trị sản phẩm, hàng hoá đem biếu tặng hoặc tiêu dùng nội bộ. Các chi phí của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bao gồm: SV : Phạm Thị Hải Anh 7 Lớp : K6HK1A Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS. Lê Đức Tố - Giá vốn hàng bán: phản ánh trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ xuất bán trong kỳ ( với doanh nghiệp thương mại, nó chính là trị giá mua + chi phí mua của hàng hoá bán ra ). - Chi phí bán hàng: là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
Đó là các chi phí như: chi phí bao gói sản phẩm, bảo quản hàng hoá, chi phí vận chuyển, tiếp thị, quảng cáo… - Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những khoản chi phí cho việc quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến toàn hoạt động của doanh nghiệp. Ta có thể khái quát lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo công thức: LN từ HĐSXKD= DTT- GVHB – CPBH - CPQLDN Trong đó: DTT = DTBH –Các khoản giảm trừ doanh thu - Thuế gián thu 1. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Là số chênh lệch giữa thu nhập hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ xác định. Công thức xác định: LNHĐTC = DT HĐTC – CP HĐTC - Thuế gián thu (nếu có) Thu nhập hoạt động tài chính: Là khoản thu do doanh nghiệp tiến hành các hoạt động đầu tư tài chính hoặc kinh doanh vốn đem lại bao gồm hoạt động góp vốn liên doanh liên kết, đầu tư chứng khoán, thu nhập từ việc cho thuê tài sản, thu lãi tiền gửi… Chi phí hoạt động tài chính: Là các khoản chi phí cho các hoạt động đầu tư tài chính và các chi phí liên quan đến hoạt động về vốn gồm chi phí về liên doanh không tính vào giá trị vốn góp, lỗ liên doanh, lỗ do bán chứng khoán, chi phí đầu tư tài chính, chi phí SV : Phạm Thị Hải Anh 8 Lớp : K6HK1A Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.
Lê Đức Tố liên quan đến vay vốn, chi phí liên quan đến việc mua bán ngoại tệ, chi phí khấu hao tài sản cố định, thuê tài chính… 1. Lợi nhuận khác Lợi nhuận khác: Là số chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí hoạt động khác.Công thức xác định: Lợi nhuận khác = DT khác - CP khác Doanh thu khác: Là những khoản thu mà doanh nghiệp không dự tính trước và không xảy ra một cách thường xuyên: +Thu về thanh lý tài sản cố định, nhượng bán tài sản cố định +Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng +Thu tiền bảo hiểm được bồi thường +Thu được các khoản nợ phải thu đã xoá sổ tính vào chi phí kỳ trước +Khoản nợ phải trả nay mất chủ được ghi tăng thu nhập +Thu các khoản thuế được giảm, được hoàn lại +Các khoản thu khác Chi phí khác: Là những khoản chi phí hoạt động do nguyên nhân khách quan xảy ra như tiền bị phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản ghi nhầm sổ sách kế toán… Sau khi đã xác định lợi nhuận của các hoạt động, tổng hợp lại ta được lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: LNTT = LN HĐSXKD +LN HĐTC + LN khác Lợi nhuận sau thuế TNDN được xác định như sau: LNST = Lợi nhuận trước thuế TNDN - Thuế TNDN 1. Vai trò của lợi nhuận Kinh nghiệm thực tiễn qua nhiều đợt cải tiến công tác quản lý ở nước ta đã chứng tỏ rằng: sẽ không có một nền kinh tế cũng như một DN hoạt động thực sự có hiệu quả chừng nào cơ chế tập trung quan liêu bao cấp còn thống trị, chừng nào chưa thừa nhận trên thực tế sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị và phạm trù của nó. Nắm được điều đó, Nhà nước ta đã chuyển nền kinh tế sang hoạt SV : Phạm Thị Hải Anh 9 Lớp : K6HK1A Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD : ThS.
Lê Đức Tố động theo cơ chế thị trường bao gồm nhiều thành phần kinh tế cùng song song tồn tại. Và lúc này cạnh tranh là điều tất yếu, các DN phải đấu tranh với nhau để tồn tại và thương trường trở thành chiến trường. Trong điều kiện này, DN có tồn tại và phát triển hay không điều đó phụ thuộc vào việc DN hoạt động có hiệu quả hay không? Qua đây, vai trò của lợi nhuận được bộc lộ rõ nét hơn không chỉ là duy trì sự tồn tại, phát triển của DN mà bên cạnh đó còn giúp cải thiện hơn nữa đời sống cho người lao động và góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân. Lợi nhuận đối với doanh nghiệp Lợi nhuận vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.