Tổng quan nghiên cứu

Trong hơn một thập kỷ qua, thị trường xây lắp công nghiệp và hạ tầng năng lượng trọng điểm tại Việt Nam chứng kiến sự chiếm lĩnh áp đảo của các nhà thầu quốc tế. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Cơ khí thuộc Bộ Công Thương, các nhà thầu nước ngoài đã trúng thầu với mức giá rất thấp tại 23 trên tổng số 24 dự án xi măng, 15 trên 20 dự án nhiệt điện đốt than, và 2 trên 2 dự án khai thác bauxite lớn với tỷ lệ nội địa hóa chỉ vỏn vẹn 2%. Thực trạng này kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng như công trình chậm tiến độ từ vài tháng đến 2 hoặc 3 năm, phát sinh đội giá đầu tư, biến thị trường nội địa thành nơi tiếp nhận công nghệ lạc hậu và làm thu hẹp cơ hội việc làm của các doanh nghiệp xây dựng trong nước.

Đứng trước bối cảnh đó, nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng tỷ lệ trúng thầu cho các nhà thầu nội địa khi tham gia đấu thầu các đại dự án theo mô hình trọn gói. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa lý luận về quản lý đấu thầu EPC, phân tích thực trạng năng lực dự thầu tại Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2014, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng thắng thầu.

Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình cung cấp bộ công cụ định lượng khoa học giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí chuẩn bị hồ sơ thầu, giảm thiểu rủi ro tài chính và gia tăng tỷ lệ trúng thầu các dự án quy mô lớn. Nghiên cứu tạo tiền đề thúc đẩy tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn từ mức dưới 10% lên các nấc thang cao hơn, củng cố vị thế của các tập đoàn kinh tế nhà nước trên thương trường quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết đấu thầu cạnh tranh trong kinh tế xây dựng và mô hình quản lý dự án tích hợp EPC. Hợp đồng tổng thầu EPC là hình thức thỏa thuận trọn gói bao gồm ba cấu phần cốt lõi: Thiết kế kỹ thuật (Engineering - E), Mua sắm vật tư thiết bị công nghệ (Procurement - P), và Thi công xây lắp chuyển giao (Construction - C).

Khung lý thuyết của luận văn tích hợp mô hình đánh giá đa tiêu chí và ma trận vuông Warkentin để lượng hóa năng lực cạnh tranh của nhà thầu. Trong quy chế đấu thầu hiện hành, các tiêu chuẩn đánh giá được phân chia thành ba phương pháp chính: phương pháp giá thấp nhất, phương pháp giá đánh giá, và phương pháp kết hợp kỹ thuật - tài chính. Đối với các gói thầu EPC công nghệ cao, yêu cầu kỹ thuật đòi hỏi điểm sàn cho từng thành phần E, P, C không được thấp hơn 70%, đồng thời điểm kỹ thuật tổng hợp toàn diện phải đạt tối thiểu từ 90% trở lên. Khung lý thuyết cũng vận dụng các quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Nghị định số 63/2014/NĐ-CP nhằm chuẩn hóa quy trình xét thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp định lượng trên nguồn dữ liệu đa tầng. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo tài chính kiểm toán trong 3 năm tài chính liên tiếp từ năm 2011 đến năm 2013 của Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam, cùng số liệu tổng kết công tác đấu thầu toàn quốc năm 2013 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố với quy mô 97.973 gói thầu.

Về phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 10 dự án tiêu biểu thuộc ngành dầu khí và năng lượng, điển hình như Dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 công suất 2x600MW, Dự án Điện Nhơn Trạch 2, Dự án H4 Tê Giác Trắng, Dự án Sư Tử Nâu và Dự án Lô 67 tại Peru. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích ma trận vuông Warkentin kết hợp bảng chỉ tiêu tổng hợp là nhằm chuyển đổi các tiêu chí định tính phức tạp về uy tín thương hiệu, năng lực kỹ thuật và giải pháp tổ chức mặt bằng thành các chỉ số lượng hóa cụ thể. Phương pháp này giúp hội đồng đấu thầu của doanh nghiệp rút ngắn thời gian phân tích và đưa ra quyết định tham gia tranh thầu nhanh chóng, chính xác trong khung thời gian thực hiện nghiên cứu từ năm 2011 đến cuối năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích dữ liệu vĩ mô năm 2013 cho thấy hình thức chỉ định thầu vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 61,47% tổng số gói thầu thực hiện trên toàn quốc, tương ứng với 60.223 gói thầu và tổng giá trúng thầu đạt 123.654,71 tỷ đồng. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế mang lại rất hạn chế khi giá trị tiết kiệm ngân sách chỉ đạt 6.081,27 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ tiết kiệm vỏn vẹn 4,69%. Trong khi đó, hình thức đấu thầu rộng rãi chỉ chiếm 23,61% tổng số gói thầu nhưng mang lại tính cạnh tranh thực chất hơn.

Thứ hai, tại Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam, quá trình tham gia các gói thầu EPC bộc lộ sự mất cân đối lớn giữa các cấu phần công việc. Doanh nghiệp thể hiện năng lực thi công xây lắp (phần C) rất vững chắc, đảm nhận trên 70% khối lượng xây dựng tại các đại dự án như Nhiệt điện Vũng Áng 1. Tuy nhiên, ở hai khâu mang lại giá trị gia tăng cao nhất là khảo sát thiết kế chi tiết (phần E) và mua sắm chế tạo thiết bị công nghệ chính (phần P), tỷ lệ tự đảm nhiệm của doanh nghiệp chỉ chiếm dưới 30%, phần lớn phải phụ thuộc vào liên danh nước ngoài hoặc nhà thầu phụ quốc tế.

Thứ ba, cơ cấu chi phí chuẩn bị hồ sơ dự thầu chiếm khoảng 1% đến 2% tổng giá trị dự toán gói thầu. Khi tỷ lệ trúng thầu chưa cao, chi phí này tạo áp lực tài chính không nhỏ lên dòng tiền của doanh nghiệp. Năng lực tài chính và khả năng thu xếp vốn bảo lãnh thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp nội vẫn còn khoảng cách lớn so với yêu cầu của các gói thầu quốc tế quy mô hàng trăm triệu USD.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nhà thầu trong nước để mất thị phần EPC bắt nguồn từ nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Về mặt chủ quan, đội ngũ kỹ sư quản lý dự án EPC theo chuẩn quốc tế còn mỏng, trình độ ngoại ngữ chuyên ngành và kinh nghiệm xử lý tranh chấp hợp đồng FIDIC còn hạn chế. Về mặt khách quan, cơ chế xét thầu trước đây quá chú trọng tiêu chí giá thấp nhất, tạo kẽ hở cho các nhà thầu ngoại chào giá thấp hơn từ 20% đến 30% so với mặt bằng thực tế để trúng thầu, sau đó liên tục trì hoãn và phát sinh điều chỉnh tăng vốn.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình tròn phân tích cơ cấu 5 hình thức lựa chọn nhà thầu năm 2013 và bảng ma trận Warkentin đối sánh năng lực 5 yếu tố then chốt (Kỹ thuật, Tài chính, Nhân sự, Thiết bị, Giá thầu) giữa PVC và các đối thủ cạnh tranh quốc tế. Việc so sánh cho thấy bước chuyển giao từ Luật Đấu thầu cũ sang Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 với phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ chính là cơ hội bước ngoặt để nhà thầu nội khẳng định giá trị thực chất về mặt kỹ thuật thay vì chỉ chạy đua giảm giá thuần túy.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu và nâng cấp toàn diện nguồn nhân lực tổng thầu EPC. Ban Lãnh đạo Tổng Công ty cần phê duyệt đề án thành lập Trung tâm Đào tạo Quản lý Dự án Tổng thầu, đặt mục tiêu đến hết giai đoạn 2015 - 2017 có ít nhất 45% đội ngũ cán bộ chuyên trách đấu thầu đạt chứng chỉ quốc tế về quản lý dự án và am hiểu sâu sắc luật pháp thương mại quốc tế.

Thứ hai, chuẩn hóa chiến lược định giá dự thầu và ứng dụng bộ chỉ tiêu tổng hợp. Phòng Kế hoạch Đấu thầu cần triển khai ngay việc áp dụng ma trận vuông Warkentin vào quy trình xét duyệt nội bộ từ quý 1 năm 2015, giúp rút ngắn thời gian thẩm định và ra quyết định tham gia tranh thầu xuống dưới 7 ngày làm việc, hướng tới mục tiêu tối ưu hóa biên lợi nhuận ròng của từng gói thầu đạt từ 5% đến 8%.

Thứ ba, mở rộng liên danh liên kết chiến lược với các đối tác cơ khí chế tạo và thiết kế trong nước. Doanh nghiệp cần chủ động thiết lập chuỗi cung ứng bền vững, phấn đấu nâng tỷ lệ nội địa hóa vật tư thiết bị trong các dự án năng lượng lên mức 40% đến 50% trong giai đoạn 2015 - 2020, giảm thiểu sự phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng độc quyền nước ngoài.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống kiểm soát chất lượng và quản trị rủi ro thi công. Ban Quản lý Chất lượng và An toàn lao động cần áp dụng nghiêm ngặt hệ thống tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và quy chuẩn an toàn dầu khí, cam kết giảm tỷ lệ chi phí phát sinh do sai lỗi kỹ thuật xuống dưới mức 2% tổng giá trị hợp đồng.

Thứ năm, kiến nghị các bộ ngành trung ương và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Nhà nước cần hoàn thiện bộ mẫu hợp đồng EPC chuẩn hóa cho thị trường xây dựng Việt Nam, đồng thời nghiên cứu thành lập 3 trung tâm đấu thầu chuyên nghiệp quốc gia tại ba miền Bắc - Trung - Nam nhằm tách bạch quyền hạn giữa chủ đầu tư và tổ chức đấu thầu, triệt tiêu triệt để hiện tượng thông thầu và bảo đảm nhà thầu nội được hưởng ưu đãi hợp pháp khi đảm nhận từ 25% khối lượng công việc trở lên trong các liên danh quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban lãnh đạo và chuyên viên đấu thầu tại các doanh nghiệp xây lắp quy mô lớn, đặc biệt trong các ngành dầu khí, năng lượng điện và hóa chất. Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn để đánh giá rủi ro, phân tích đối thủ cạnh tranh và thiết lập bảng chỉ tiêu tổng hợp giúp ra quyết định dự thầu chuẩn xác.

Thứ hai, các chủ đầu tư, ban quản lý dự án thuộc khối cơ quan nhà nước và tập đoàn kinh tế. Tài liệu là cẩm nang hữu ích hỗ trợ xây dựng hồ sơ mời thầu EPC, thiết lập tiêu chí đánh giá kỹ thuật đồng bộ và kiểm soát chất lượng công trình trọn gói.

Thứ ba, các cơ quan quản lý nhà nước như Cục Quản lý Đấu thầu thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng và Bộ Công Thương. Công trình cung cấp các luận cứ thực tiễn từ hiện trường để hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý hợp đồng tổng thầu EPC và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho doanh nghiệp nội địa.

Thứ tư, các giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc chuyên ngành Kinh tế xây dựng và Quản lý dự án. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về phương pháp ứng dụng ma trận Warkentin trong định lượng năng lực cạnh tranh xây lắp.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình hợp đồng tổng thầu EPC mang lại những lợi ích đột phá nào cho chủ đầu tư? Hình thức EPC giúp chủ đầu tư tinh gọn đáng kể bộ máy quản trị dự án, tối ưu hóa ngân sách nhờ cơ chế giá hợp đồng trọn gói và rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư. Mọi khâu từ khảo sát, thiết kế, cung ứng vật tư đến thi công đều quy về một đầu mối chịu trách nhiệm duy nhất, loại bỏ hoàn toàn các xung đột kỹ thuật phát sinh giữa đơn vị thiết kế và nhà thầu xây lắp.

Tiêu chuẩn đánh giá kỹ thuật đối với một gói thầu EPC quy định mức điểm tối thiểu là bao nhiêu? Theo chuẩn mực đánh giá được phân tích trong luận văn, các gói thầu EPC đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật rất nghiêm ngặt. Điểm số yêu cầu tối thiểu cho từng cấu phần độc lập gồm thiết kế (E), mua sắm thiết bị (P) và xây dựng (C) không được phép dưới mức 70%, đồng thời tổng điểm kỹ thuật kết hợp của toàn bộ hồ sơ dự thầu phải đạt tối thiểu từ 90% trở lên mới vượt qua vòng đánh giá kỹ thuật.

Tại sao các nhà thầu Việt Nam thường gặp nhiều bất lợi trước các nhà thầu quốc tế trong các gói thầu EPC? Doanh nghiệp trong nước còn thiếu hụt kinh nghiệm thiết kế chi tiết và năng lực tài chính bảo lãnh, trong khi nhà thầu nước ngoài thường có ưu thế nguồn vốn tín dụng xuất khẩu dồi dào và sẵn sàng chào giá thấp hơn 20% đến 30% để thâu tóm thị trường, như trường hợp diễn ra tại 23 trên 24 nhà máy xi măng trên cả nước.

Ma trận vuông Warkentin hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định dự thầu như thế nào? Ma trận Warkentin lượng hóa các tiêu chí cạnh tranh thông qua việc xác định trọng số ưu tiên cho từng biến số kỹ thuật, giá cả, thiết bị và nhân sự. Nhờ công cụ này, ban lãnh đạo doanh nghiệp có thể so sánh trực quan thực lực với đối thủ, xác định chính xác xác suất trúng thầu và đưa ra quyết định nộp hồ sơ thầu chỉ trong vòng 5 đến 7 ngày.

Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 có những quy định mới nào nhằm bảo vệ các nhà thầu trong nước? Luật mới quy định bắt buộc nhà thầu nước ngoài khi tham dự đấu thầu quốc tế tại Việt Nam phải liên danh với nhà thầu trong nước. Nếu phần công việc do nhà thầu nội đảm nhận đạt từ 25% giá trị gói thầu trở lên thì liên danh sẽ được hưởng chính sách ưu đãi trực tiếp, kết hợp với việc áp dụng phương thức xét thầu hai túi hồ sơ giúp loại bỏ triệt để hiện tượng bỏ giá rẻ kém chất lượng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc và toàn diện cơ sở lý luận về đấu thầu trọn gói EPC theo khung pháp lý của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.
  • Phân tích sắc bén thực trạng thị trường đấu thầu năm 2013 với 61,47% gói thầu áp dụng hình thức chỉ định và chỉ ra các điểm nghẽn của nhà thầu nội tại khâu thiết kế và mua sắm thiết bị.
  • Ứng dụng thành công công cụ định lượng ma trận vuông Warkentin giúp chuyển đổi các tiêu chí định tính thành chỉ số tổng hợp hỗ trợ ra quyết định tranh thầu nhanh chóng.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ và khả thi về nhân lực, định giá dự thầu, liên danh chiến lược và quản trị chất lượng cho giai đoạn 2015 - 2020.
  • Cung cấp các khuyến nghị chính sách vĩ mô giá trị nhằm thành lập các trung tâm đấu thầu chuyên nghiệp và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa trong các công trình trọng điểm quốc gia.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh ngay trong chu kỳ kinh doanh mới, các doanh nghiệp xây lắp cần khẩn trương đưa bộ công cụ chỉ tiêu tổng hợp vào ứng dụng thực tế từ quý 1 năm 2015. Hãy chủ động tìm hiểu và khai thác toàn diện các giải pháp khoa học trong công trình nghiên cứu này để xây dựng chiến lược dự thầu bài bản, sẵn sàng làm chủ những công trình công nghiệp quy mô lớn trong tương lai.