Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh xuất khẩu và ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Chương 2: Thực trạng về hoạt động kinh doanh xuất khẩu ngành hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty TNHH Mỹ nghệ Nam Sơn. Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty TNHH Mỹ nghệ Nam Sơn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU VÀ NGÀNH HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM 1.
Xuất khẩu hàng hóa và vai trò của hoạt động xuất khẩu 1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa Kể từ khi nền sản xuất hàng hóa ra đời, con người đã có nhu cầu trao đổi buôn bản với nhau, và đó là tiền đề cho việc xuất khẩu. Theo điều 28, mục I, chương 2 luật thương mại Việt Nam 2005: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc dưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hai quan riêng theo quy định của pháp luật”. Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương, đã xuất hiện từ rất lâu đời và ngày càng phát triển.
Tuy hình thức đầu tiên chỉ là hàng đối hàng, song ngày nay hình thức xuất khẩu đã được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi phạm vi rộng cả về không gian lẫn thời gian.
Nó có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và cũng có thể kéo dài hàng năm. Đồng thời nó có thể được tiến hành trên phạm vi toàn lãnh thổ một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Vai trò của hoạt động xuất khẩu a. Đối với nền kinh tế Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để công nghiệp hoá đất nước trong thời gian ngắn chúng ta phải có nguồn vốn đủ lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật hiện đại và tiên tiến. Khai thác tốt tiềm năng của từng quốc gia nhất là lĩnh vực có lợi thế so sánh. Xuất khẩu thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và đẩy mạnh sản xuất. Xuất khẩu lấy thị trường thế giới làm thị trường của mình vì vậy quá trình sản xuất phải xuất phát từ nhu cầu thị trường thế giới.
Những ngành sản xuất tạo ra sản phẩm phục vụ tốt cho thị trường các nước, sẽ phát triển mạnh mẽ. Những ngành nào không thích ứng sẽ bị đào thải. Như vậy, xuất khẩu có tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Sự ảnh hưởng này có thể liệt kê như sau: + Xuất khẩu tạo cơ hội mở rộng thị trưởng tiêu thụ góp phần làm cho sản xuất phát Thư viện ĐH Thăng Long 4 triển ổn định.
+ Xuất khẩu là điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. + Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp dầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước đồng thời xuất khấu tạo tiền để kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao nguồn lực sản xuất trong nước. + Thông qua xuất khẩu hàng hóa nước ta tham gia cạnh tranh trên thị trưởng thế giới cả về giá cả và chất lượng, cuộc cạnh tranh này buộc chủng ta phải tổ chức lại sản xuất trong nước, hình thành cơ cấu thích nghi với thị trường thế giới. Xuất khẩu tác động tích cực tới công ăn việc làm cải thiện đời sống nhân dân.
Xuất khẩu là công cụ giải quyết nạn thất nghiệp trong nước. Theo số liệu International Trade 2000 - 2005 ở Mỹ: “Các nước công nghiệp phát triển sản xuất tăng lên được 1 tỷ USD thì sẽ tăng lên khoảng 35,000 – 40,000 chỗ làm”, còn ở Việt Nam có thể tạo ra hơn 50. Đặc biệt xuất khẩu hàng hoá nông sản thu hút hàng triệu lao động tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩn sự phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho các ngành kinh tế trong nước gắn chặt với nhau hơn.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động chủ yếu, cơ bản, là hình thức ban đầu của kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và quan hệ đối ngoại có tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế. Ngược lại sự phát triển của các ngành này cũng tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
Đối với doanh nghiệp Vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng chung của mỗi quốc gia, và của các doanh nghiệp. Việc xuất khẩu hàng hoá dịch vụ mang lại cho doanh nghiệp các lợi ích sau: - Hoạt động xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Với bản chất là hoạt động tiêu thụ đặc biệt do vậy việc đẩy mạnh xuất khẩu cũng là một vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp. Mở rộng thị trường, đẩy mạnh số lượng tiêu thụ trên thị trường quốc tế làm tăng tốc độ quay vòng vốn, thu về một lượng giá trị lớn hơn cho doanh nghiệp.
Đây cũng chính là vai trò số một của hoạt động xuất khẩu. - Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước tham gia vào - cuộc cạnh tranh trên thị trường về giá cả và chất lượng, những yếu tố đó bắt buộc doanh nghiệp phải hình thành cơ cấu xuất khẩu phù hợp với thị trường. - Xuất khẩu là nhân tố tích cực thúc đẩy doanh nghiệp trong quá trình hoàn thiện chất lượng sản phẩm và đề ra các giải pháp nhằm củng cố, nâng cao hiệu quả trong công tác sản xuất cũng như tiêu thụ. 5 - Doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ ở cùng có lợi.
- Sản xuất hàng xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động tạo thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên lao động trong doanh nghiệp. - Mặt khác thị trường quốc tế là một thị trường rộng lớn nó chứa đựng nhiều cơ hội cũng như nhiều rủi ro. Những doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường này nếu thành công sẽ có thể tăng cao thể lực, uy tín của doanh nghiệp minh cả trong và ngoài nước. Và việc đẩy mạnh xuất khẩu cũng là chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn tới để nền kinh tế nước ta tăng trưởng và phát triển kịp với các nước trong khu vực và thế giới.
Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 1. Xuất khẩu trực tiếp - Khái niệm: Xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản xuất, các công ty xí nghiệp và các nhà xuất khẩu, trực tiếp ký kết hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá với các đối tác nước ngoài. Hình thức này không qua một tổ chức trung gian nào, nhà xuất khẩu và nhập khẩu có thể trực tiếp gặp nhau cùng bàn bạc thảo luận để đưa đến một hợp đồng hoặc không cần gặp nhau trực tiếp mà có thể thông qua thư chào hàng, thư điện tử, fax, điện thoại.mà một hợp đồng ngoại thương vẫn được ký kết. - Ưu điểm: + Thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng dẫn đến thống nhất và ít xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc.
+ Giảm được chi phí trung gian, nhiều khi chi phí này rất lớn, phải chia sẻ lợi nhuận. + Giao dịch trực tiếp sẽ có điều kiện xâm nhập thị trường, kịp thời tiếp thu ý kiến của khách hàng, khắc phục thiếu sót. + Chủ động trong việc chuẩn bị nguồn hàng, phương tiện vận tải để thực hiện hoạt động xuất khẩu và kịp thời điều chỉnh thị trường tiêu thụ, nhất là trong điều kiện thị trưởng nhiều biến động. - Hạn chế: + Đối với thị trường mới chưa từng giao dịch thường gặp nhiều bỡ ngỡ, dễ gặp sai lầm, bị ép giá trong mua bản.
+ Đòi hỏi cán bộ công nhân viên làm công tác kinh doanh xuất khẩu phải có năng lực, hiểu biết về nghiệp vụ ngoại thương, ngoại ngữ, văn hoá của thị trường nước ngoài, cũng như phải có nhiều kinh nghiệm tích lũy. Thư viện ĐH Thăng Long 6 + Khối lượng mặt hàng giao dịch phải lớn mới có thể bù đắp được các chi phítrong giao dịch như: giấy tờ, đi lại, nghiên cứu thị trường,… 1. Xuất khẩu ủy thác - Khái niệm: Là một hình thức dịch vụ thương mại, theo đó doanh nghiệp ngoại thương dùng ra với vai trò trung gian thực hiện xuất khẩu hàng hoá cho các đơn vị uỷ thác. Xuất khẩu uỷ thác gồm 3 bên, bên uỷ thác xuất khẩu, bên nhận uỷ thác xuất khẩu và bên nhập khẩu.
Bên uỷ thác không được quyền thực hiện các điều kiện về giao dịch mua bán hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán. mà phải thông qua bên thứ 3 - người nhận uỷ thác. Xuất khẩu uỷ thúc được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không được phép kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp, vì vậy uỷ thác cho doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu làm đơn vị xuất khẩu hàng hoá cho mình, bên nhận ủy thác được nhận một khoản thù lao gọi là phí ủy thác. - Ưu điểm: + Giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm của mình.
+ Giúp cho hàng hoá của doanh nghiệp dễ dàng thâm nhập vào một thị trường mới mà mình chưa biết, tránh được rủi ro khi mình kinh doanh trên thị trường đó. + Tận dụng sự am tường hiểu biết của bên nhận ủy thác trong nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu từ khâu đóng gói, vận chuyển, thuê tàu mua bảo hiểm. sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được tiền của, thời gian đầu tư cho việc thực hiện xuất khẩu. - Hạn chế: + Doanh nghiệp không thể liên hệ trực tiếp với thị trường buôn bán.
+ Kinh doanh phụ thuộc vào năng lực phẩm chất của người trung gian. + Lợi nhuận bị chia sẻ. Hình thức xuất khẩu gián tiếp này áp dụng trong trường hợp một doanh nghiệp có hàng hoá mới xuất khẩu mà doanh nghiệp không được phép xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp.