Chương 1: Cơ sở lý luận về thu hồi công nợ của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác thu hồi công nợ của Tổng công ty Công nghiệp Hóa chất mỏ - Vinacomin. Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hồi công nợ tại Tổng công ty Công nghiệp Hóa chất mỏ - Vinacomin. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HỒI CÔNG NỢ CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát về thu hồi công nợ 1. Khái niệm công nợ Nợ là khoản phải hoàn trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan tại một thời điểm, phát sinh từ việc vay của chủ thể được phép vay vốn theo quy định của pháp luật Việt Nam. Công nợ nói chung là sự thể hiện cho mối quan hệ giữa chủ nợ và khách nợ thông qua một hoặc nhiều đối tượng nợ (GS. Ngô Thế Chi, 2010).
Chủ nợ và khách nợ có thể là những tổ chức thương mại hay những cá nhân có mối quan hệ giao dịch thương mại, mua bán, trao đổi với nhau. Công nợ bao gồm công nợ phải thu và công nợ phải trả. Đây là hai mặt trái ngược của một vấn đề nhưng tồn tại song song và khách quan với nhau, chúng có ảnh hưởng tới công tác tài chính của doanh nghiệp. Công nợ phải trả là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải trả cho các đơn vị, các tổ chức kinh tế, xã hội hoặc cá nhân như: Nợ tiền vay, nợ phải trả cho người bán, nợ phải trả, phải nộp cho Nhà nước, cho công nhân viên, cho cơ quan cấp trên và các khoản phải trả khác.
Công nợ phải thu là một tài sản của đơn vị nhưng đang bị các tổ chức hay tập thể, cá nhân khác chiếm dụng mà đơn vị có trách nhiệm thu hồi. Những tài sản đó là những khoản phát sinh trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với các đối tác. Khái niệm thu hồi công nợ Theo như GS. Ngô Thế Chi (2010), thu hồi công nợ là việc chủ nợ yêu cầu khách nợ của mình thực hiện thanh toán các khoản tiền, tài sản khác khi đến hạn hoặc quá hạn thanh toán theo thỏa thuận/ hợp đồng giữa chủ nợ và khách nợ, hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thu hồi công nợ giúp đảm bảo sự lành mạnh về tài chính của cá nhân và doanh nghiệp; đảm bảo lợi nhuận của tài chính cá nhân, doanh nghiệp; quyết định sự sống còn của cá nhân, doanh nghiệp và hạn chế những rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Việc thu hồi công nợ đóng vai trò then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến tài chính của doanh nghiệp. Do đó, để việc thu hồi công nợ đạt hiệu quả, doanh nghiệp nên áp dụng đa dạng những chính sách, biện pháp thu hồi nợ. Nếu áp dụng các biện pháp thích hợp cho từng đối tượng, bên nợ thì khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn.
Việc áp dụng các biện pháp thu hồi nợ trái pháp luật hoặc không thích hợp đối với bên nợ có thể khiến việc thu hồi nợ của doanh nghiệp khó khăn hơn rất nhiều. Do đó, tùy vào từng đối tượng, bên nợ, doanh nghiệp nên linh hoạt áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm giúp việc thu hồi nợ được diễn ra nhanh chóng, dễ dàng. Phân loại công nợ phải thu 1. Các khoản phải thu của khách hàng Các khoản phải thu của khách hàng là quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với khách hàng phát sinh chủ yếu trong quá trình bán sản phẩm, vật tư, hàng hóa, cung cấp lao vụ, dịch vụ, bàn giao thanh toán khối lượng thi công mà khách hàng đã nhận của doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán tiền (GS.
Ngô Thế Chi, 2010). Các khoản phải thu của khách hàng được phân loại theo kỳ hạn thanh toán. Đó là khoản phải thu ngắn hạn có kỳ hạn thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày phát sinh và khoản phải thu dài hạn có kỳ hạn thanh toán trên 12 tháng kể từ ngày phát sinh. Khoản phải thu có tính thanh khoản cao, có thể chuyển đổi thành tiền mặt trong một khoảng thời gian ngắn.
Khoản phải thu có thể dẫn đến rủi ro không thu hồi được, ảnh hưởng đến lợi nhuận và dòng tiền của doanh nghiệp. Khoản phải thu thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khoản phải thu ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp. Khoản phải thu cao có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt tiền mặt, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản chi phí và đầu tư của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần quản lý khoản phải thu hiệu quả để đảm bảo dòng tiền hoạt động. Các khoản phải thu nội bộ Các khoản phải thu nội bộ là các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên với đơn vị cấp dưới, giữa các đơn vị cấp dưới với nhau trong đó đơn vị cấp trên là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đơn vị cấp dưới là các đơn vị thành viên phụ thuộc có tổ chức công tác kế toán riêng. Ở đơn vị cấp trên (doanh nghiệp độc lập, tổng công ty), khoản phải thu nội bộ thường là các khoản vốn, quỹ hoặc kinh phí đã cấp chưa thu hồi hoặc chưa được quyết toán; vốn khấu hao do cấp dưới vay, các khoản cấp dưới phải nộp cấp trên theo quy định; các khoản nhờ cấp dưới thu hộ; các khoản đã chi, đã trả hộ cấp dưới; các khoản đã cấp cho đơn vị trực thuộc để thực hiện khối lượng giao khoán nội bộ và nhận lại giá trị giao khoán nội bộ và các khoản phải thu vãng lai khác. Ở đơn vị cấp dưới, các khoản phải thu nội bộ thường là các khoản được cấp trên cấp nhưng chưa nhận được (trừ vốn kinh doanh); khoản cho vay về vốn khấu hao; các khoản nhờ cấp trên hoặc đơn vị nội bộ khác thu hộ; các khoản đã chi, đã trả hộ cấp trên và các đơn vị nội bộ khác.
Do các đơn vị nội bộ cùng một đơn vị độc lập, cho nên khoản phải thu của đơn vị này sẽ là khoản phải trả của đơn vị nội bộ khác (GS. Ngô Thế Chi, 2010). Tạm ứng Tạm ứng là việc các bộ công nhân viên trong doanh nghiệp ứng trước một khoản tiền hoặc vật tư để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh hoặc giải quyết một công 6 việc đã được phê duyệt. Sau khi thực hiện xong, cán bộ công nhân viên đó phải có trách nhiệm thanh toán tạm ứng với doanh nghiệp.
Tạm ứng có thể là các khoản tiền chi cho các công việc thuộc về công tác tổ chức hành chính, sự kiện (tiếp khách, mua văn phòng phẩm, tổ chức hội nghị…), tạm ứng tiền tàu xe, phụ cấp lưu trú, tiền công tác của công nhân viên khi đi công tác, tạm ứng cho người đi mua nguyên vật liệu, hàng hóa, trả tiền vận chuyển, bốc vác nguyên vật liệu (GS. Ngô Thế Chi, 2010). Các khoản trả trước ngắn hạn cho người bán Trả trước cho người bán là khoản tiền mà doanh nghiệp đặt trước cho người bán để nhận hàng nhằm mục đích nhận chiết khấu từ phía khách hàng là nhà cung cấp. Doanh nghiệp trả tiền hàng trước cho người bán còn nhằm mục đích đảm bảo nhận được hàng khi thị trường đang khan hiếm hàng hóa đó, khi nhà cung cấp có quá nhiều đối tượng muốn mua hàng.
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động ít doanh nghiệp đặt tiền hàng trước mà thường có xu hướng chiếm dụng vốn của đối tác hơn. Các khoản trả trước ngắn hạn là các chi phí thực tế phát sinh ở kỳ này nhưng có liên quan đến nhiều kỳ sản xuất kinh doanh kế tiếp sau. Vì vậy phải tính toán phân bổ cho nhiều kỳ sau nhằm cho chi phí giá thành tương đối ổn định giữa các kỳ. Chi phí trả trước ngắn hạn là những khoản chi phí thực tế phát sinh có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh (GS.
Ngô Thế Chi, 2010) 1. Khoảng tiền cầm cố, ký cược, ký quỹ Cầm cố là việc doanh nghiệp mang tài sản, tiền vốn của mình giao cho người nhận cầm cố để vay vốn hoặc để nhận các loại bảo lãnh. Tài sản cầm cố có thể là vàng, bạc, đá quý, ô tô, xe máy,. và cũng là giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu về nhà đất hoặc tài sản.
Ký cược là việc doanh nghiệp đi thuê tài sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các đồ vật có giá trị cao khác nhằm mục đích ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của người đi thuê tài sản phải quản lý, sử dụng tài sản đi thuê và hoàn trả đúng thời hạn quy định. Trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng, ký quỹ được hiểu là việc doanh nghiệp gửi một khoản tiền hoặc kim loại quý, đá quý hay là các giấy tờ có giá trị vào tài khoản phong tỏa của ngân hàng để đảm bảo cho việc thực hiện bảo lãnh cho doanh nghiệp. Đặc điểm của cầm cố, ký quỹ, ký cược là các tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp trong thời hạn thỏa thuận. Vì vậy, phòng kế toán cần phải ghi chép đầy đủ, rõ ràng từng khoản mục theo đúng thời hạn quy định, thực hiện đúng các điều khoản cam kết tránh gây tổn thất tài sản do vi phạm hợp đồng (GS.
Ngô Thế Chi, 2010). Công nợ từ các loại thuế khác nhau Công nợ từ thuế GTGT được khấu trừ ( đối với các doanh nghiệp trả thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ) Thuế GTGT được khấu trừ là phần thuế GTGT đầu vào được trả trước nhưng NSNN chưa hoàn trả. Thông thường các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá hay mua nguyên vật liệu bao gồm cả thuế GTGT đầu vào. Doanh nghiệp sử dụng những nguyên vật liệu đầu vào để làm ra hàng hoá bán trên thị trường với giá đã bao gồm cả thuế GTGT đầu ra.
Nếu thuế GTGT đầu ra lớn hơn thuế GTGT đầu vào thì doanh nghiệp sẽ nộp lại NSNN khoản dư ra đó. Ngược lại, thuế GTGT đầu ra nhỏ hơn thuế GTGT đầu vào thì doanh nghiệp sẽ được khấu trừ thuế GTGT. Nhưng nếu doanh nghiệp không được NSNN hoàn trả thì khoản thuế GTGT được khấu trừ vẫn sẽ được ghi nhận vào công nợ phải thu NSNN (GS. Ngô Thế Chi, 2010).
Công nợ từ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) Công nợ từ thuế TNDN phát sinh khi doanh nghiệp chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thu nhập đối với ngân sách nhà nước (NSNN) trong kỳ kế toán hoặc tại thời điểm kết thúc năm tài chính. Thuế TNDN thường được tính dựa trên lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp.