CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan và cơ sở lí luận về vốn lưu động 1. Khái niệm vốn lưu động Theo Gitman & Zutter (2012): Vốn lưu động là sự luân chuyển của tài sản ngắn hạn từ hàng tồn kho thành các khoản phải trả, tiền để cung cấp lượng tiền đảm bảo cho thanh toán nợ ngắn hạn. Subramanyam & Wild (2009) định nghĩa vốn lưu động ròng, hay còn gọi là vốn lưu động, là sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Vốn lưu động cũng có thể được tính bằng sự chênh lệch giữa vốn dài hạn và tài sản dài hạn. Vốn dài hạn dôi ra sau khi đầu tư vào tài sản dàn hạn cùng với vốn ngắn hạn được đầu tư vào tài sản ngắn hạn. (Hào & Tuấn, 2023) Như vậy, vốn lưu động được tính theo công thức dưới đây: Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn = Nợ dài hạn – Tài sản dài hạn Hình 1.1: Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp (Ross, Westerfield, & Jaffe, 2013) Thành phần của vốn lưu động bao gồm tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn là những tài sản được kì vọng chuyển đổi thành tiền mặt hoặc được sử dụng vào hoạt động của doanh nghiệp trong vòng một năm hoặc chu kỳ hoạt động, tuỳ vào 3 thời gian nào dài hơn; Nợ ngắn hạn là những nghĩa vụ nợ mà công ty phải thực hiện chỉ trả trong vòng một năm hoặc chu kỳ hoạt động, tuỳ vào thời gian nào dài hơn.
Tài sản ngắn hạn được liệt kê trên báo cáo tài chính bao gồm các thành phần cơ bản như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho. Nợ ngắn hạn bao gồm khoản phải trả, tiền lương cho công nhân viên. (Hào & Tuấn, 2023) Ngoài ra, vốn lưu động ròng hoạt động được định nghĩa là tài sản ngắn hạn ròng hoạt động trừ đi nợ ngắn hạn ròng hoạt động. Tài sản ngắn hạn hoạt động bao gồm các khoản mục tiền, khoản phải thu và hàng tồn kho; còn nợ ngắn hạn hoạt động là các khoản phải trả và các khoản mục dồn tích trên bảng cân đối kế toán.
Chứng khoán có thể bán và các khoản đầu tư ngắn hạn khác không được cho là tài sản ngắn hạn hoạt động nên chúng bị bỏ qua khi tính vốn lưu động ròng hoạt động. Như vậy, nghiên cứu về sự luân chuyển vốn lưu động ròng trong bài viết sẽ được thể hiện qua sự luân chuyển giữa các thành phần cơ bản của nó: tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho và khoản phải trả. Khái quát về thành phần vốn lưu động 1. Khái quát chung về tiền Tiền ở đây được hiểu là bao gồm tiền tồn quỹ của doanh nghiệp và tiền gửi ngân hàng không kì hạn, vàng, bạc, kim khí, đá quỹ và tiền đang chuyển, là tài sản có tính thanh khoản cao nhất, phương tiện thanh toán kịp thời cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp duy trì tiền là điều cần thiết, vì nó hỗ trợ doanh nghiệp trong các hoạt động: Đầu cơ (đối với doanh nghiệp cần giao dịch ngoại tệ), Thực hiện giao dịch hàgng ngày, Đảm bảo số dư bù trừ trong các tài khoản ngân hang. Khoản mục tiền trên bảng cân đối kế toán được hình thành và vận động trong suốt quá trình vận hành doanh nghiệp, tạo nên dòng tiền ra và dòng tiền vào. Dòng tiền vào bao gồm 3 thành phần: • Dòng tiền vào từ hoạt động sản xuất, kinh doanh: được tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể là cung cấp hàng hoá, dịch vụ. • Dòng tiền vào từ hoạt động đầu tư: được tạo ra từ các tài sản dài hạn của doanh nghiệp như việc thu từ hoạt động thanh lý, nhượng bán, cho thuê máy móc, thiết bị; lãi cho vay vốn, góp vốn liên doanh liên kết; lãi cổ tức, trái tức, … • Dòng tiền vào tử hoạt động tài chính: được tạo ra từ các hoạt động tài trợ vốn 4 cho doanh nghiệp như tiền thu từ vay các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác; nhận góp vốn theo hợp đồng hợp tác đầu tư; thu từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu;.
Dòng tiền ra bao gồm 3 thành phần: • Dòng tiền ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh: xuất hiện khi doanh nghiệp thực hiện thanh toán các khoản chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh như mua nguyên vật liệu và các dịch vụ (điện, nước, điện thoại, .); hoạt động bán hàng; hoạt động quản lý doanh nghiệp; trả lãi vay; thuê máy móc, văn phòng, nhà xưởng; … • Dòng tiền ra từ hoạt động đầu tư: xuất hiện khi doanh nghiệp tài trợ để đầu tư hình thành tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, văn phòng; ngoài ra, dòng tiền ra từ hoạt động này có thể do hoạt động cho vay, góp vốn liên doanh, liên kết,. • Dòng tiền vào tử hoạt động tài chính: hình thành do doanh nghiệp hoàn trả nợ vay, nợ thuê, trả cổ tức, mua cổ phiếu của doanh nghiệp làm cổ phiếu quỹ, … 1. Khái quát chung về khoản phải thu Phải thu là các khoản tiền phát sinh khi doanh nghiệp tăng doanh thu từ bán sản phẩm, cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhưng khách hàng chưa thanh toán và các khoản tiền của công ty ứng trước cho công ty khác. Các khoản phải thu đề cập đến các khoản tiền tăng do doanh thu từ cung cấp hàng hoá dịch vụ, trong khi các hoá đơn phải thu đề cập đến các khế ước chính thức bằng văn bản của các khoản phải thu đó.
Các công ty có thể có các khoản phải thu mà không cần có giấy nhận nợ chính thức. Khái quát chung về hàng tồn kho Đối với công ty sản xuất, HTK thường được phân loại thành ba loại: nguyên vật liệu thô, sản phẩm dở dang và thành phẩm (Ross, Westerfield, & Jaffe, 2013). - Nguyên vật liệu thô là bất cứ nguyên vật liệu công ty sử dụng vào giai đoạn đầu trong quá trình sản xuất của mình. - Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa được tạo thành thành phẩm xuất bán.
Tỷ lệ sản phẩm dở dang so với tổng lượng HTK phụ thuộc phần lớn vào độ dài của quá trình sản xuất. - Thành phẩm là sản phẩm đã sẵn sàng để được bán Đối với doanh nghiệp thương mại, HTK chính là thành phẩm. Hai loại chi phí cơ bản đối với HTK mà DN phải chịu là chi phí vận chuyển và chi phí dự trữ (Ross, Westerfield, & Jaffe, 2013): Chi phí vận chuyển hàng tồn kho bao gồm tất cả những chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội của việc nắm giữ hàng tồn kho của doanh nghiệp, bao gồm: chi phí lưu trữ 5 và theo dõi; bảo hiểm và các khoản thuế; tổn thất do lỗi thời, hư hỏng hoặc bị mất cắp; chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn vào các khoản đầu từ khác. Loại chi phí khác liên quan đến hàng tồn kho là chi phí do thiếu hụt hàng tồn kho.
Đây là chi phí doanh nghiệp phải chịu khi xử lí tình huống hàng tồn kho của doanh nghiệp nắm giữa không đủ thực hiện nhu cầu sản xuất kinh doanh hiện tại. Hai thành phần của chi phí do thiếu hụt là chi phí đặt hàng lại và chi phí duy trì dự trữ an toàn. Chi phí đặt hàng lại phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện đặt hàng với nhà cung cấp. Khái quát chung về khoản phải trả Các khoản phải trả là nguồn tài trợ ngắn hạn chính của doanh nghiệp, tuy nhiên nó không được đảm bảo.
Các khoản phải trả hình thành khi doanh nghiệp mua thực hiện giao dịch mua hàng nhưng doanh nghiệp chưa thanh toán ngay nên chúng được Sang8 khoản nợ của doanh nghiệp mua với nhà cung cấp. Doanh nghiệp mua đồng ý thanh toán cho nhà cung cấp số tiền được yêu cầu theo các điều khoản được ghi trong hoá đơn mà nhà cung cấp phát hành. Vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp Vốn lưu động là một công cụ đo lường tính thanh khoản, hiệu quả hoạt động và sức khoẻ tài chính ngắn hạn của công ty (Kenton, 2019). Nó cũng được coi như thước đo thể hiện sự an toàn của công ty đối với các chủ nợ.
Vốn lưu động đo lường tính thanh khoản sẵn có để đáp ứng các tình huống không chắc chắn xung quanh dòng tiền ra và dòng tiền vào. Tuy nhiên, (Subramanyam & Wild, 2009) cho rằng vốn lưu động là con dao 2 lưỡi – các công ty cần vốn lưu động để hoạt động hiệu quả, nhưng nó lại rất tốn kém vì phải được tài trợ và yêu cầu các chi phí hoạt động khác như tổn thất tín dụng đối với các khoản phải thu và chi phí lưu trữ và hậu cần cho hàng tồn kho. Xác định nhu cầu vốn lưu động Việc xác định nhu cầu vốn lưu động ròng dự kiến giúp đảm bảo hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp. Nhu cầu vốn lưu động ròng là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài trợ cho một phần tài sản ngắn hạn, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu Nhu cầu vốn lưu động ròng = Hàng tồn kho và các khoản phải thu – Nợ ngắn hạn Nhu cầu về vốn lưu động thay đổi theo điều kiện ngành và độ dài của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt.
Lượng vốn lưu động có liên quan nhiều hơn đến các quyết định của người lãnh đạo khi liên quan đến các biến tài chính quan trọng khác như doanh thu hoặc tổng tài sản. 6 Công ty phát triển thành công có thể tạo ra nhu cầu vốn lưu động lớn hơn. Tuy nhiên khi việc mở rộng công ty không đi kèm với việc tăng vốn lưu động sẽ khiến cho thanh khoản bị thắt chặt và làm giảm tỷ lệ nợ ngắn hạn. Tổng quan và cơ sở lí luận về quản trị vốn lưu động 1.
Khái niệm quản trị vốn lưu động Quản trị là quá trình hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm soát công việc và những nổ lực của con người, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả mọi tài nguyên, để hoàn thành các mục tiêu đã định. Tăng cường quản trị vốn lưu động có tác động hết sức to lớn đến một doanh nghiệp. Khả năng tồn tại của một doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng của các nhà quản lí tài chính đối với việc quản lí hiệu quả các khoản phải. Vốn lưu động rộng để xem xét mối quan hệ cơ bản giữa tài sản hiện tại và nợ ngắn hạn và sau đó sử dụng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt để xem xét các khía cạnh chính của quản lý tài sản hiện tại.