CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VỚI NGƯỜI NÔNG DÂN 1. Một số vấn đề cơ bản về liên kết kinh tế 1. Khái niệm về Liên kết kinh tế Liên kết kinh tế là một khái niệm xuất hiện từ lâu nhưng những quan niệm về nó rất khác nhau, thường không rõ ràng và khá phức tạp. Trong ngôn ngữ gốc La- tinh, thuật ngữ integration hay integratio có nghĩa là kết hợp, hòa hợp, hội nhập, hợp nhất được nhiều nhà nghiên cứu nước ta cho rằng đồng nghĩa với thuật ngữ liên kết.
Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất. Được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước. Các nhà nghiên cứu nước ngoài khẳng định bản chất của liên kết kinh tế là thể chế kinh tế và trên cơ sở đó họ đi tìm sự khác biệt giữa nó với hai thể chế còn lại đối lập nhau như hai cực đó là thị trường mở và thứ bậc (kế hoạch mệnh lệnh). Trong sự khác biệt đó họ đặt liên kết kinh tế như là một thể chế kinh tế trung gian giữa hai cơ chế cơ bản nêu trên với nhiều hình thức và mức độ khác nhau.
Tóm lại, có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau về bản chất của liên kết kinh tế: Tuy nhiên chúng ta thấy điểm đồng nhất là liên kết kinh tế là một cơ chế kinh tế; liên kết kinh tế là một hình thức tổ chức sản xuất; liên kết kinh tế vừa là cơ chế kinh tế vừa là hình thức tổ chức sản xuất và đều này đồng 11 nghĩa với việc xem liên kết kinh tế là một thể chế kinh tế; liên kết kinh tế là một quá trình kinh tế.2 Đặc trưng liên kết kinh tế Dưới giác độ kinh tế - chính trị, luận văn này lựa chọn cách tiếp cận xem liên kết kinh tế là một thể chế kinh tế. Với cách tiếp cận trên và theo nguyên tắc kế thừa và phát triển, sau khi lược qua những nghiên cứu đã có để có khái niệm đúng và hiểu rõ bản chất của liên kết kinh tế, chúng ta cần xem xét và khái quát những đặc trưng cơ bản của liên kết kinh tế. - Đặc trưng thứ nhất: Liên kết kinh tế là một quan hệ kinh tế chỉ có thể diễn ra giữa hai hoặc nhiều chủ thể kinh tế độc lập, tự chủ về kinh tế, có quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng tài sản của mình và do đó theo qui luật quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý nên quan hệ giao dịch với nhau giữa các “người chơi” trong liên kết kinh tế chỉ có thể diễn ra theo “luật chơi” tự nguyện, thỏa thuận, cùng có lợi và tin tưởng lẫn nhau. Tuy nhiên đặc trưng này cũng là đặc trưng của thể chế thị trường.
- Đặc trưng thứ hai: Liên kết kinh tế là một quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau theo một kế hoạch định trước dài hạn trong tương lai hoặc thường xuyên. Tính định trước trong tương lai tự nó không nhất thiết phải là quan hệ thường xuyên, theo đó một quan hệ giao dịch dù chỉ xảy ra một lần giữa hai đối tác độc lập một cách tự nguyện, cùng có lợi và được định trước diễn ra trong một thời gian nhất định vẫn là một liên kết kinh tế. Ngược lại đã là một quan hệ giao dịch thường xuyên lâu thì tất yếu phải mang tính định trước. Tuy nhiên “luật chơi” này cũng là đặc trưng của thể chế kế hoạch.
- Đặc trưng thứ ba: Liên kết kinh tế là một trong những hình thức phối hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh tế, chứ không phải là mọi sự phối hợp 12 hoạt động giữa các chủ thể kinh tế. Điều đó cũng tương tự như mệnh đề liên kết kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tế chứ không phải là mọi quan hệ kinh tế. Cơ chế nào sẽ có hình thức phối hợp đó. Với cơ chế thị trường thì sự phối hợp diễn ra trong một quan hệ ngẫu nhiên; với cơ chế kế hoạch thì sự phối hợp đó mang tính định trước theo kế hoạch và sự chỉ huy điều tiết chung của một trung tâm quản lý thống nhất trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc trong toàn bộ nền kinh tế; còn với liên kết kinh tế thì sự phối hợp đó phải diễn ra cũng mang tính tất nhiên, theo một kế hoạch định trước khi tiến hành giao dịch như trong thể chế kế hoạch, nhưng lại phải mang tính chất tự nguyện,thỏa thuận, đôi bên cùng có lợi như trong cơ chế thị trường.
- Đặc trưng thứ tư: Liên kết kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tế không tồn tại độc lập mà luôn gắn liền với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cụ thể mang tính đặc thù của liên kết kinh tế để hình thành nên thể chế. Cơ chế kinh tế nào (Tức quan hệ kinh tế) thì phải tương ứng với hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cụ thể đó. Cơ chế thị trường tự do có chợ, cửa hàng, trung tâm thương mại, trung tâm giao dịch, thị trường chứng khoán. Cơ chế kế hoạch mệnh lệnh tương ứng với các hình thức tổ chức như: công ty, doanh nghiệp, tơ-rớt, xí nghiệp liên hợp, liên hiệp xí nghiệp hạch toán tập trung, quản lý vĩ mô của nhà nước….
Liên kết kinh tế có các hình thức tổ chức đặc thù của nó như: Hiệp hội ngành hàng, chuỗi cung ứng, Các-ten, tổ hợp, bạn hàng, đồng minh kinh tế, hợp tác sản xuất kinh doanh, liên doanh…. - Đặc trưng thứ năm: Mục tiêu mà cũng là tác dụng của liên kết kinh tế là để ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế. Mục tiêu ổn định kinh tế của liên kết kinh tế cũng là mục tiêu của kế hoạch hóa xuất phát từ sự biến động thất thường, cân đối và mất cân đối thường xuyên thậm chí có thể xảy ra khủng hoảng của thể chế thị trường. Mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu của mọi thể chế kinh tế.
Xét trong sự cùng tồn tại và tương quan lẫn nhau giữa 3 thể chế trong nền kinh 13 tế thì trong những hoàn cảnh và tình huống cụ thể , thể chế nào mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn mới có lý do tồn tại. Nếu xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế thì thể chế nào nhìn chung mang lại hiệu quả hơn cho nền kinh tế thì thể chế đó giữ vai trò chủ đạo. Từ những phân tích mang tính kế thừa và phát triển nêu trên tác giả nêu lên khái niệm“ Liên kết kinh tế là một thể chế kinh tế nhằm thực hiện một kiểu phối hợp hành động giữa các chủ thể kinh tế độc lập tự chủ với nhau, một cách tự nguyện, thỏa thuận, đôi bên cùng có lợi và tin tưởng lẫn nhau; ràng buộc lẫn nhau theo một kế hoạch hoặc qui chế định trước, dài hạn hoặc thường xuyên; nhằm ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế”.3 Các hình thức liên kết Tùy theo căn cứ để phân chia có thể có nhiều loại hình liên kết kinh tế khác nhau. Mổi một cách phân chia biểu hiện những thuộc tính khác nhau của liên kết kinh tế giúp cho việc nhận thức và thực hiện có hiệu quả kiên kết kinh tế.
- Căn cứ theo quan hệ kinh tế-kỹ thuật, có các loại hình liên kết sau: + Liên kết dọc : Là liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất-kinh doanh khác ngành nhưng có mối quan hệ kinh tế-kỹ thuật trong toàn bộ hoặc một phân đoạn của một dây chuyền công nghệ sản xuất-lưu thông từ nguyên liệu ban đầu đến sản phẩm tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ: Quan hệ liên kết giữa nông dân-doanh nghiệp sản xuất bông xơ là một liên kết dọc. + Liên kết ngang : Là liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất- kinh doanh trong cùng một ngành hàng cùng phối hợp hoạt động cho một lợi ích chung hoặc thực hiện chuyên môn hóa trong ngành để góp phần tạo ra cùng một lọai sản phẩm. Ví dụ: Các-ten, xanh-di-ca, hiệp hội ngành hàng là những hình thức liên kết ngang.
Gần gũi hơn như hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta hiện nay được xây dựng trên cơ sở hộ nông nghiệp tự chủ thực chất là một hình thức liên kết ngang. 14 + Liên kết nghiêng, là liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất-kinh doanh về lĩnh vực chuyên môn, khoa học, công nghệ; không phân biệt cùng ngành hay khác ngành. Ví dụ: Hội bảo vệ thực vật Việt Nam là một hình thức liên kết nghiêng. - Căn cứ theo cấu trúc thành phần, có các loại hình liên kết sau: + Liên kết song phương: Là liên kết giữa hai chủ thể kinh tế độc lập.
Ví dụ: Liên kết kinh tế giữa một doanh nghiệp chế biến nông sản với một hộ nông dân là một liên kết song phương. + Liên kết đa phương: Là liên kết giữa nhiều chủ thể kinh tế độc lập. Ví dụ: Khu vực thương mại tự do ASEAN-AFTA là một tổ chức liên kết kinh tế đa phương. Liên kết đa phương có thể kết cấu thành các loại hình cụ thể khác nhau: • Liên kết chuỗi: Liên kết nhiều doanh nghiệp, chủ thể kinh tế cùng tham gia vào một chuỗi cung cấp, thực hiện quá trình nhiều công đoạn khác nhau theo một dây chuyền, nhằm sản xuất và đưa một sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường.
Liên kết chuỗi cũng là một kiểu liên kết dọc. Ví dụ: Chuỗi cung ứng cà phê Trung nguyên ở Việt Nam là một chuỗi liên kết dọc. • Liên kết mạng (lưới): Liên kết nhiều doanh nghiệp vừa cùng ngành vừa khác ngành nhưng có mối quan hệ kinh tế-kỹ thuật với nhau. Ví dụ: Trong quan hệ kinh tế nội bộ của một tổ hợp, tập đoàn kinh tế đa ngành có liên kết mạng.
Liên kết mạng là tổng hợp liên kết dọc, ngang và nghiêng. • Liên kết hình sao: Liên kết của nhiều doanh nghiệp, chủ thể kinh tế thông qua một doanh nghiệp, chủ thể kinh tế đóng vai trò trung tâm điều phối. Ví dụ: Trong quan hệ kinh tế nội bộ của một tổ hợp, tập đoàn kinh tế đa ngành có liên kết hình sao thông qua hoạt động cung ứng sản phẩm và dịch vụ của công ty mẹ.