CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH NỀN KINH TẾ SỐ 1. Tổng quan về doanh nghiệp khởi nghiệp 1. Một số khái niệm Khái niệm khởi nghiệp: Khởi nghiệp theo từ điển tiếng Việt được giải nghĩa là bắt đầu sự nghiệp. Định nghĩa khởi nghiệp cũng thay đổi qua thời gian với các nhà nghiên cứu khác nhau.
Đến đầu thế kỷ 20, định nghĩa khởi nghiệp đã được hoàn thiện và được diễn đạt là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó. Để phân biệt “khởi nghiệp” với hoạt động “lập nghiệp thông thường”, khái niệm khởi nghiệp được gắn với đặc thù là dựa trên sáng tạo, vì vậy thường dùng khái niệm “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”. Trong văn bản chính sách hiện nay ở Việt Nam, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được mô tả là “loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới”. Theo các tài liệu học thuật quốc tế, Startup là doanh nghiệp hoặc một tổ chức tạm thời, được thiết kế để tìm ra một mô hình hoạt động có thể lặp lại hoặc mở rộng nhanh chóng (Blank, 2010).
Ở Việt Nam, thường dùng thuật ngữ “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” (Startup) để phân biệt với lập nghiệp thông thường như mở quán phở hay cửa hàng bán quần áo. “Khởi sự doanh nghiệp” thường được dùng ngắn gọn với hai từ “Khởi nghiệp”, đề cập tới việc một cá nhân hay nhóm người khởi sự công việc kinh doanh và theo đuổi con đường kinh doanh như một lựa chọn nghề nghiệp (Trần Văn Trang, 2017). Thông thường, Startup - khởi nghiệp được hiểu là thuật ngữ chỉ những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung, nghĩa là những công ty đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình hoạt động. Những công ty đang ở trong giai đoạn này thường được cấp vốn bởi chính những người sáng lập để phát triển sản phẩm và dịch vụ của họ.
Do nguồn thu hạn hẹp và chi phí cao, hầu hết các startup với quy mô nhỏ thường không ổn định trong khoảng thời gian dài nếu không có nguồn vốn hỗ trợ từ các quỹ đầu tư. “Khởi nghiệp” là giai đoạn đầu một cá nhân, nhóm cá nhân có ý tưởng kinh doanh và tìm cách gây dựng một tổ chức hay doanh nghiệp để triển khai ý tưởng kinh n 12 doanh đó trong các điều kiện thiếu chắc chắn. Theo đó, khởi nghiệp chỉ là một giai đoạn trong cả một hành trình kinh doanh rất dài. Đó là giai đoạn khởi đầu, là giai đoạn mà nhà khởi nghiệp phải đối đầu với rất nhiều khó khăn để biến từ 0 thành 1, từ chưa có gì đến tạo ra cái gì đó trong những điều kiện rất thiếu hụt thông tin, kinh nghiệm và nguồn lực.
Đó cũng là giai đoạn mà nhà khởi nghiệp thể hiện rõ nhất năng lực "tạo giá trị" của chính mình - đặc điểm cốt yếu giúp phân biệt giữa một nhà khởi nghiệp (entrepreneur) với những người cũng tham gia các hoạt động kinh doanh nhưng trong những điều kiện khác, giai đoạn khác (khi có sẵn nhiều nguồn lực và có sẵn nhiều thông tin). Khái niệm về doanh nghiệp khởi nghiệp thường được hiểu với ý nghĩa là người sáng tạo hay khởi sự một doanh nghiệp mới. Trên thực tế, nhà khởi nghiệp được áp dụng để chỉ cả những người làm chủ hay điều hành doanh nghiệp. Doanh nghiệp khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất.
Doanh nghiệp khởi nghiệp có sự liên hệ mật thiết với nguồn tài chính và thủ tục pháp lý đăng ký doanh nghiệp khởi nghiệp. Trong pháp luật thực định Việt Nam hiện nay, nhà làm luật chưa đưa ra định nghĩa chính thức về doanh nghiệp khởi nghiệp mà mới chỉ có định nghĩa về “doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo”. Luật Hỗ trợ doanh nhiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017 thì “doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh” (Quốc Hội, 2017). Theo khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định 94/2020/NĐ-CP , Nghị định quy định cơ chế, chính sách ưu đãi đối với trung tâm đổi mới sang tạo Quốc gia, ban hành ngày ngày 21 tháng 8 năm 2020 có quy định về khái niệm doanh nghiệp khởi nghiệp, sáng tạo, cụ thể: - Cá nhân khởi nghiệp sáng tạo là người hoạt động nghiên cứu, phát triển ý tưởng và kinh doanh sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới.
n 13 - Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh. “Nhà khởi sự doanh nghiệp là những người (chủ doanh nghiệp) tìm tòi tạo ra giá trị thông qua tổ chức hoặc mở rộng các hoạt động kinh tế bao gồm “tạo ra và khai thác sản phẩm, quá trình hoặc thị trường mới”; hay “nhà khởi nghiệp là những người có kiểm soát trực tiếp đối với hoạt động của doanh nghiệp bởi sự sở hữu toàn bộ hoặc sở hữu một phần đáng kể cổ phần của doanh nghiệp” (Nguyễn Hồng Sơn & Phan Chí Anh, 2013). Phần lớn các doanh nghiệp khởi nghiệp đều có một mục tiêu đó là phải phát triển để dần trở thành một công ty “bền vững”. Mục tiêu trong giai đoạn khởi nghiệp chưa phải là đạt tối đa lợi nhuận, có thật nhiều khách hàng, nâng giá trị thương hiệu,… mà chính là các startup đó phải thực hiện rất nhiều thử nghiệm và phải điều chỉnh mô hình kinh doanh liên tục để có thể xác lập một mô hình khả thi, vững vàng, có lợi nhuận, có thể chuẩn hóa và có thể nhân rộng quy mô.
Doanh nghiệp khởi nghiệp phải dựa trên một công nghệ mới, hoặc tạo ra hình thức kinh doanh mới, hoặc xây dựng một phân khúc thị trường mới. Tức là các doanh nghiệp khởi nghiệp phải có gì đó khác biệt không chỉ với các doanh nghiệp khác ở trong nước, với tất cả các công ty trước đây và cả với các doanh nghiệp khác trên thế giới. Như vậy, về bản chất doanh nghiệp khởi nghiệp là tổ chức kinh tế được thành lập bởi một cá nhân hay nhóm cá nhân để tiến hành hoạt động kinh doanh trong những ngành nghề, lĩnh vực mới mẻ, có tính sáng tạo và gắn với khoa học công nghệ, tài sản trí tuệ nhưng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Doanh nghiệp khởi nghiệp còn được hiểu là tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh trên cơ sở thực hiện ý tưởng khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh để phát triển (Hoàng Thị Phương Hiền, 2020).
Một ý kiến khác lại cho rằng doanh nghiệp khởi nghiệp là một loại hình doanh nghiệp có thể dưới dạng một công ty để mưu tìm một mô hình kinh doanh ăn khách n 14 và linh hoạt (Hoàng Quang Tuyến, 2015). Những doanh nghiệp khởi nghiệp này là doanh nghiệp mới thành lập, ở pha “đang phát triển” và đang điều nghiên thị trường. Thuật ngữ doanh nghiệp khởi nghiệp, ngày nay trở nên phổ biến trên thế giới, được khởi đi từ thời bong bóng chấm com (.com), thời mà vô vàn công ty kinh doanh trên internet với trang web có đuôi .com được thành lập. Vì nguồn gốc như thế, nhiều người coi doanh nghiệp khởi nghiệp chỉ là dạng công ty công nghệ.
Nhưng, thời nay, khi công nghệ trở thành yếu tố đương nhiên, thì khi nói đến công ty doanh nghiệp khởi nghiệp, chúng phải nhấn mạnh đến 3 tính chất quan trọng loại hình doanh nghiệp này đó là có sáng kiến đổi mới, quy mô linh hoạt, tăng trưởng nhanh. Theo cách hiểu này, định nghĩa doanh nghiệp khởi nghiệp có hai ý: một là từ doanh nghiệp nhỏ, chẳng hạn một quán ăn, trong một thị trường thành thục, đầy quán sá, hướng đến trở thành công ty khác biệt lớn, hay giá trị cao. Hai là tìm cách thực hiện một chiến lược kinh doanh đổi mới để có thể “khoan thủng” thị trường hiện tại, như trường hợp của Amazon, Uber hay Google. Hơn nữa, doanh nghiệp khởi nghiệp không phải là phiên bản nhỏ của công ty lớn.
Một doanh nghiệp khởi nghiệp là một tổ chức tạm thời, được thiết lập để mưu tìm một mô hình kinh doanh và thăm dò mức độ hút thị trường của sản phẩm/dịch vụ. Ngược lại, một công ty lớn là một tổ chức đã tồn tại lâu dài và đáp ứng tốt thị trường, nó đã được thiết kế để vận hành một mô hình kinh doanh đã được xác định rõ, được công nhận hoàn toàn, đã vượt qua thử thách, đã được thẩm tra chứng minh tính ổn định, rõ ràng, không tham vọng, luôn ăn khách và linh hoạt. Quá trình đi tìm một mô hình kinh doanh ăn khách và linh hoạt của một doanh nghiệp khởi nghiệp chủ yếu là quá trình đi từ thất bại này đến thất bại khác để rút ra bài học từ mỗi thất bại cái gì là không nên làm. Do đó, doanh nghiệp khởi nghiệp là một công ty được thiết lập để kỳ vọng tăng trưởng nhanh.
Việc mới thành lập, thậm chí thuộc ngành công nghệ, được quỹ đầu tư rủi ro tài trợ hoặc có chiến lược thoát hiểm tốt cũng không làm cho một công ty trở thành một doanh nghiệp khởi nghiệp. Điều chính yếu để một công ty có là một doanh nghiệp khởi nghiệp hay không là tốc độ tăng trưởng của nó. Ông chủ doanh nghiệp khởi nghiệp phải đối đầu với loại vấn n 15 đề khó khăn hơn doanh nghiệp thông thường, đó là phải tìm cho ra một trong ít ý tưởng hiếm hoi nhằm tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh. Giá trị của một doanh nghiệp khởi nghiệp nằm hoàn toàn ở tiềm năng tăng trưởng trong tương lai của nó.
Việc xác định một doanh nghiệp mới có là doanh nghiệp khởi nghiệp hay không được nhấn mạnh vào giai đoạn đang phát triển hơn là vào cấu trúc hay ngành nghiệp của hãng đó. Chính vì vậy, trong luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo một cách linh hoạt với hàm ý tương đương nhau. Sự ra đời của doanh nghiệp khởi nghiệp Không ai có thể biết chính xác “Thời kì khởi nghiệp” bắt đầu từ khi nào. Thế nhưng khái niệm “khởi nghiệp” được phổ biến rộng rãi khi có sự xuất hiện của hệ thống Thung lũng Silicon.