chương 1 Luật Doanh nghiệp 2020). Trong quá trình hoạt động kinh tế, mục tiêu chính của mọi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, hay nói rằng lợi nhuận là một trong những nhân tố quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp. Muốn đạt được tối đa hoá lợi nhuận, doanh nghiệp cần kiểm tra, đánh giá một cách hợp lý hoá quá trình sản xuất kinh doanh cho từng khâu từ nguồn yếu tố đầu vào cho đến khâu sản xuất và khâu phân phối tiêu thụ. Mức độ hợp lý hoá của quy trình này được phản ánh qua một phạm trù kinh tế gọi là hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh phụ thuộc theo mỗi lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Theo Adam Smith – nhà kinh tế học người Anh : “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Theo quan điểm này thì hiệu quả kinh doanh được đồng nhất với chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh. Ông cho rằng vớ các mức chi phí khác nhau nhưng đem lại một kết quả giống nhau thì hiệu quả là như nhau.
Nhưng điểm này không phù hợp vì nó chưa bao quát toàn diện hiệu quả hoạt động kinh doanh, đó là thiếu đi chi phí đầu vào – yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Theo quan điểm của P.Nordhaus Sam thì : "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một 5 loạt sản lượng hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó" (Giáo trình Kinh tế học, NXB Thống kê, Hà Nội, 2002). Quan điểm này nói về phương diện phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực sản xuất.
Nền kinh tế được cho là đạt hiệu quả cao khi việc phân chia và sử dụng những nguồn lực đó trên đường giới hạn khả năng sản xuất. Hiệu quả mà hai tác giả nêu ra ở đây có thể coi là lý tưởng và không thể vượt qua được nữa. Một quan điểm khác nêu ra là hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí (Theo Kinh tế thương mại dịch vụ- NXB Thống kê 1998). Quan điểm này nêu ra được hiệu quả qua mối quan hệ so sánh tương đối của kết quả đạt được và phần chi phí bỏ ra.
Tuy nhiên xét theo quan điểm của triết học Mác- Lênin, mỗi sự vật và hiện tượng không tồn tại độc lập mà có tác động qua lại với nhau. Thêm vào đó, hoạt động sản xuất kinh doanh là một quá trình tăng thêm có mối liên quan chặt chẽ với những yếu tố sẵn có. Chính các yếu tố đó là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp làm kết quả kinh doanh chỉ xem xét đến phần kết quả và phần chi phí tăng thêm. Từ một số quan điểm trên, ta có thể rút ra được khái niệm chung nhất về hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ phát triển kinh tế thông qua sử dụng các nguồn lực như lao động, máy móc, nguyên vật liệu…để đạt mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Bản chất và ý nghĩa của hiệu quả sản xuất kinh doanh Từ định nghĩa hiệu quả sản xuất kinh doanh trên, bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động sản xuất. Từ khi kinh tế Việt nam chuyển sang nền kinh tế thị trường cho đến nay, môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng ngày càng gay gắt và gây ra tình trạng khan hiếm nguồn lực. Việc này đã bắt buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tận dụng triệt để các nguồn lực nội tại, tận dụng năng lực của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí để nâng cao hiệu quả kinh doanh chính mình. 6 Hiệu quả sản xuất kinh doanh là khác so với kết quả sản xuất kinh doanh.
Kết quả sản xuất kinh doanh là thành quả mà doanh nghiệp có được sau cả một quá trình dài. Nó là đại lượng phản ảnh cả về phương diện số lượng và chất lượng qua thành phẩm của doanh nghiệp. Cho nên kết quả hoạt động kinh doanh được xem là một trong các yếu tố đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Về mặt định lượng thì hiệu quả kinh doanh thu được khi kết quả kinh doanh tạo ra lớn hơn chi phí đã bỏ.
Về mặt định tính thì hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ quản lý kinh tế và sự cố gắng trong mỗi khâu sản xuất. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nghĩa là phải thu được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu mà chi phí ở đây bao gồm cả chi phí cơ hội. Hiệu quả hoạt động kinh doanh có thể được coi là một trong số các công cụ giúp những nhà quản trị thể hiện năng lực của mình. Việc phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh không những giúp phát hiện những nhân tố tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh mà còn hỗ trợ cải tiến việc quản trị trong kinh doanh từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp trên cả hai mặt: tăng kết quả sản xuất và giảm thiểu chi phí nhằm mục đích nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh 1. Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp a. Môi trường quốc tế và khu vực: Khi khu vực hoá, toàn cầu hoá đã và đang là xu hướng mà các doanh nghiệp hướng đến thì môi trường quốc tế nói chung và khu vực nói riêng đồng thời tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho doanh nghiệp. Những chính sách chính trị, chính sách bảo hộ và mở cửa, tình hình chiến tranh, tình trạng kinh tế của thế giới,…ảnh hưởng trực tiếp tới việc tìm kiếm thị trường để mở rộng tiêu thụ hàng hoá và chọn lọc, sử dụng nguồn cung cấp đầu vào của doanh nghiệp.
Tình hình chính trị cũng như kinh tế trong khu vực phát triển ổn định là động lực để các doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh, cải thiện năng lực sản xuất ,.đóng góp nâng cao hiệu quả kinh doanh. Môi trường kinh tế trong nước: Môi trường pháp lý: 7 Nhà nước đặt ra một hệ thống pháp luật bao gồm các chính sách, các bộ luật như luật Doanh nghiệp, luật lao động, luật thương mại,…để điều hành nền kinh tế quốc gia. Môi trường pháp lý đã xây dựng lên một hành lang pháp luật mà doanh nghiệp có thể cạnh tranh nhau công bằng, bám sát và hoạt động theo quy định đó nếu như vi phạm sẽ bị xử phạt theo luật. Mỗi một quy định pháp luật về kinh doanh đều tác động lớn tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bởi nó ảnh hưởng đến phương thức kinh doanh, chi phí lưu thông hay mức thuế áp dụng….
Một môi trường pháp lý lành mạnh sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thuận lợi và ngược lại doanh nghiệp sẽ gặp nhiều bất lợi kèm theo rủi ro tăng cao trong hoạt động kinh doanh nếu môi trường pháp luật không có tính bình đẳng. Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế là yếu tố tác động rất lớn đến hiệu quả kinh danh của doanh nghiệp. Các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách đầu tư, chính sách phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu,… sẽ tạo nên ưu thế hay kìm hãm sự của mỗi ngành, lĩnh vực cụ thể. Một số các yếu tố chủ yếu trong môi trường kinh tế tác động mạnh mẽ tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức độ lạm phát, lãi suất, hệ thống về thuế,… Tốc độ tăng trưởng kinh tế: nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, mức cầu tiêu dùng lớn sẽ là nguồn động lực mạnh mẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sử dụng nguồn lực hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Và ngược lại, một nền kinh tế tăng trưởng chậm thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ kém hiệu quả. Mức độ lạm phát: tỷ lệ lạm phát của một quốc gia được duy trì ở mức độ ổn định sẽ khiến cho đồng tiền trong nước không bị mất giá. Giá trị đồng tiền có ổn định thì doanh nghiệp mới sẵn sàng cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh và nó cũng là cơ sở để đánh giá về hiệu quả kinh doanh một cách chính xác. Nếu quốc gia có mức lạm phát cao sẽ gây ra nhiều rủi ro hơn khiến doanh nghiệp không dám đầu tư vào sản xuất, sức 8 mua của xã hội giảm xuống ảnh hướng lớn đến quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Lãi suất: lãi suất tăng lên sẽ khiến doanh nghiệp hạn chế vay vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh đồng thời làm cho nhu cầu về tiêu dùng giảm xuống khi người tiêu dùng thích gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn. Hệ thống về thuế: nếu nhà nước đánh thuế cao sẽ làm cho chi phí của doanh nghiệp tăng lên, thu nhập của doanh nghiệp cũng thay đổi theo. Yếu tố về cơ sở hạ tầng: Những doanh nghiệp kinh doanh ở khu vực có hệ thống giao thông thuận lợi, hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, dân cư tập trung đông và có trình độ dân trí cao sẽ có điều kiện tốt hơn trong việc thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nhờ đó doanh nghiệp có thể tăng doanh thu, giảm thiểu chi phí và giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Ngược lại, doanh nghiệp hoạt động ở vùng có cơ sở hạ tầng kém hơn như nông thôn, miền núi hay hải đảo sẽ bất lợi trong quá trình vận chuyển, thương mại hàng hoá,…khiến cho hiệu quả hoạt động kinh doanh không tốt. Môi trường khoa học - công nghệ: Trong những năm gần đây, khoa học công nghệ đã phát triển vượt bậc và trực tiếp trở thành lực lượng sản xuất mà tác động mạnh tới sự tăng trưởng kinh tế của từng quốc gia và từng doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã ứng dụng tốt thành tựu khoa học công nghệ mới mang lại năng suất lao động cao với các sản phẩm có giá thành thấp hơn nhưng chất lượng tốt hơn, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.