CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khái niệm về động lực và tạo động lực làm việc cho người lao động 1.1 Khái niệm về tạo động lực làm việc Động lực làm việc là chuyên đề thường được đề cập trong các hoạt động nghiên cứu cũng như ứng dụng thực tiễn về quản trị NNL của mọi tổ chức. Động lực làm việc sẽ thúc đẩy và gắn kết cá nhân trong tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả làm việc. Động lực làm việc và phương pháp tạo động lực làm việc cho NLĐ được các nhà nghiên cứu thực hiện theo nhiều cách khác nhau với nhiều cách nhìn khác nhau. Hiện nay, tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về động lực làm việc, tuy nhiên các khái niệm điều có chung một nội hàm là hướng đến sự nổ lực làm việc của NLĐ để nâng cao năng suất làm việc, một số khái niệm về động lực làm việc như sau: Theo Vroom (1964), Người lao động có động lực làm việc khi họ kỳ vọng rằng giá trị nhận được từ thành quả lao động sẽ tương xứng hoặc cao hơn so với công sức họ đã nỗ lực thực hiện.
Theo Campbell và Pritchard (1976), Động lực làm việc do nhiều yếu tố hình thành nên, các yếu tố này có sự phụ thuộc và không phụ thuộc lẫn nhau như kỹ năng thực hiện, cách thức thực hiện, môi trường thực hiện. Theo Mitchell (1982), động lực là sự hài lòng mà mỗi người lao động luôn mong muốn đạt được và họ sẽ luôn nổ lực và điều chỉnh hành vi cá nhân trong quá trình làm việc để đạt kết quả cao nhất cho cá nhân, tổ chức. Theo Robbins và Coulter (2005) cho rằng động lực là quá trình thể hiện sự sẵn sàng của mỗi người lao động để họ phấn đấu nỗ lực cao hơn nhằm đạt được từng mục tiêu của tổ chức và thành quả mang lại sẽ cao hơn qua đó sẽ đạt được sự hài lòng về nhu cầu cá nhân. Trên cơ sở các khái niệm về động lực đã tìm hiểu như trên tác giả thấy rằng để tạo động lực làm việc cho người lao động thì nhà quản lý phải đảm nhận trách nhiệm dẫn dắt người lao động để hiện thực hóa các mục tiêu của tổ chức và cần phải nghiên cứu, tìm hiểu quá trình tâm lý động lực của người lao động để nắm bắt, phân 5 tích nhằm đưa ra giải pháp thúc đẩy, khích lệ người lao động kịp thời, phù hợp với tình hình thực tiễn của tổ chức.2 Vai trò của động lực làm việc Nguồn nhân lực có một vai trò tối quan trọng của mọi tổ chức và có tính quyết định đến sự thành bại của mọi tổ chức.
Một khi tổ chức/doanh nghiệp tạo được động lực làm việc tốt thì sẽ mang lại những kết quả tích cực cho cả người lao động cũng như tổ chức và ngược lại. Một số vai trò chính của động lực làm việc như sau: Đối với cá nhân: Mang lại lợi ích cho người lao động: Lãnh đạo luôn thấu hiểu về lợi ích mà người lao động nhận được có xứng đáng và phù hợp với công sức mà họ đã nổ lực cống hiến trong quá trình làm việc, có như vậy NLĐ mới thỏa mãn, toàn tâm làm việc, cống hiến và nâng cao hiệu quả lao động. Giúp cho NLĐ tự hoàn thiện bản thân: Một khi có động lực làm việc thì NLĐ sẽ tự phấn đấu, nổ lực học hỏi nâng cao năng lực, tích lũy kinh nghiệm và lan tỏa hiệu ứng tích cực đến các cá nhân khác trong tổ chức. Tạo tâm lý thúc đẩy NLĐ làm việc: Khi NLĐ thỏa mãn được các nhu cầu cá nhân như tinh thần, vật chất thì họ sẽ hăng say làm việc, cống hiến và phục vụ hết mình cho công việc, qua đó họ sẽ đam mê, gắn bó lâu dài với tổ chức.
Đối với tổ chức: Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức: Một khi NLĐ có động lực làm việc thì không những nâng cao năng lực của bản thân mà còn mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp góp phần làm tăng uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp. Tạo sự gắn kết của nhân viên: Lãnh đạo cần có tầm nhìn bao quát để tương tác, thúc đẩy và tạo động lực cho NLĐ để họ làm việc với tâm thế thoải mái, chăm chỉ, chia sẽ, gắn bó và tạo hiệu ứng tích cực nhằm lan tỏa đến những tập thể liên quan trong tổ chức. Do đó, việc nuôi dưỡng và tạo động lực cho mỗi thành viên chính là tạo động lực làm việc cho tập thể trong tổ chức. 6 Nâng tầm vị thế của tổ chức: Động lực làm việc là nhân tố quan trọng để hình thành, phát triển, duy trì nhân sự giỏi có tâm huyết cũng như thu hút và giữ chân người tài.
Một khi đã có động lực đối với tập thể NLĐ thì tổ chức sẽ lớn mạnh, thành công hơn và sẽ nâng cao được vị thế trên thương trường. Như vậy, trong tổ chức vấn đề quản lý và tạo động lực cho NLĐ là đặc biệt quan trọng, cấp thiết để làm sao cho NLĐ thỏa mãn các nhu cầu cá nhân và hăng say làm việc, cống hiến cho tổ chức qua đó tổ chức sẽ khai thác hiệu quả NNL phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Việc thu hút và giữ được những nhân viên giỏi, có kinh nghiệm thực tế gắn kết lâu dài với tổ chức sẽ mang lại một lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.3 Tạo động lực làm việc cho nhân viên Tạo động lực làm việc cho người lao động là việc nghiên cứu áp dụng các giải pháp, chính sách và phương pháp quản lý hợp lý nhằm tác động đến người lao động, điều kiện làm việc, môi trường làm việc, chính sách đãi ngộ và các mối quan hệ liên quan nhằm thúc đẩy người lao động làm việc hăng say, hài lòng với công việc. Theo Nguyễn Đức Toàn (2011), cho rằng “Tạo động lực làm việc cho người lao động là dẫn dắt nhân viên đạt được những mục tiêu đề ra với nỗ lực cao nhất.
Nó được xem như là một hệ thống hoạt động của nhà quản trị nhân sự nhằm duy trì và động viên, khuyến khích người lao động làm việc hiệu quả”. Theo Bùi Thị Minh Hồng (2008), cho rằng “mọi tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất lao động và hiệu quả công việc cao khi có được đội ngũ NLĐ làm việc tích cực, hăng say và sáng tạo”. Như vậy, Lãnh đạo trong một tổ chức phải nghiên cứu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và nhu cầu chính đáng của NLĐ để có các giải pháp phù hợp với thực tiễn của tổ chức nhằm xây dựng các chế độ chinh sách, môi trường làm việc, cũng như các mối quan hệ trong tổ chức để kích thích, động viên tinh thần và động lực làm việc cho người lao động.2 Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực trong tổ chức 1.1 Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực Hiện nay có một số khái niệm về quản lý nguồn nhân lực theo các cách khác nhau và bằng những thuật ngữ khác nhau, nhưng ý nghĩa cốt lõi của tất cả các khái niệm điều đề cập đến cách thức quản lý nhân sự trong một tổ chức. Một số khái niệm phổ biến sau: Theo Flippo & Edwin B (1980), cho rằng quản trị NNL trong tổ chức là lập kế hoạch thực hiện, phát triển các chương trình đào tạo, xây dựng chính sách chi trả cho NLĐ nhằm đạt được các mục tiêu về cá nhân, tổ chức và xã hội.
Theo DeCenzo & Robbins (2012), cho rằng quản trị nguồn nhân lực là phương pháp quan tâm người lao động trong công tác quản lý. Vì mọi tổ chức được cấu thành từ con người, việc sử dụng các dịch vụ của họ, phát triển các kỹ năng của họ, thúc đẩy họ để đạt được các kết quả tốt hơn cho tổ chức và đảm bảo rằng họ sẽ tiếp tục gắn bó với tổ chức để thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Theo Trần Kim Dung (2006), cho rằng quản trị nguồn nhân lực là tập hợp các triết lý, các chính sách và các hoạt động liên quan để chiêu mộ, đào tạo, huấn luyện nhằm duy trì và phát triển NNL cho tổ chức để đạt được các mục tiêu cho cả doanh nghiệp, tổ chức và người lao động. Theo Mathis & Jackson (2007), cho rằng quản trị nguồn nhân lực là việc thiết lập các qui chế và hệ thống chính sách trong một tổ chức để quản lý và khai thác, sử dụng hiệu quả NNL nhằm đạt được các mục tiêu trong các hoạt động của tổ chức.
Như vậy, quản trị nguồn nhân lực là tập hợp các hoạt động như xây dựng các chính sách thu hút nhân sự, lập kế hoạch đào tạo, phát triển và chính sách thăng tiến. Đồng thời, quản lý nhân sự cũng là thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa tổ chức và đội ngũ nhân viên trong tổ chức.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong tổ chức Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản và quan trọng để tạo ra giá trị cho tổ chức, do đó mọi tổ chức điều mong muốn có đội ngũ NLĐ giỏi, có năng lực và kinh nghiệm, 8 nhiệt huyết trong công việc để làm cho tổ chức ngày còn phát triển bền vững và hiệu quả hơn để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Theo Trần Kim Dung (2006), doanh nghiệp cần đáp ứng và làm thỏa mãn các nhu cầu cho nhân viên, cũng như xây dựng các cơ chế chính sách phù hợp cho họ phát triển năng lực cá nhân nhằm động viên, kích thích họ thì họ sẽ trung thành, tận tâm cống hiến lâu dài với doanh nghiệp. Như vậy, để một tổ chức phát triển thì con người đóng vai trò quan trọng và mang tính quyết định.
Do đó, các tổ chức phải nghiên cứu để có những giải pháp khai thác hiệu quả nguồn nhân lực, để triển khai tốt vấn đề này thì người đứng đầu tổ chức phải có kỹ năng, phương pháp tạo ra động lực cho nhân viên để gắn kết mọi người lại với nhau.3 Ý nghĩa của quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức Trong mọi tổ chức, quản trị nguồn nhân lực có một số ý nghĩa sau: Thứ nhất: Giúp cho nhà lãnh đạo nhận biết nhu cầu, cảm xúc, tính cách của NLĐ và từ đó tìm ra những điểm chung nhất để có giải pháp tạo động lực cho NLĐ làm việc hăng say, nhiệt tình cống hiến cho tổ chức. Ngoài ra, nó còn giúp cho lãnh đạo tránh được các sai lầm khi xây dựng chính sách tuyển dụng, đào tạo và phát triển NNL cho tổ chức.