MỞ ĐẦU 1 .Tính cấp thiết của đề tài Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng. Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn. Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề. Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cũng như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững các làng nghề.
Đã có nhiều làng nghề thay đổi phương thức sản xuất cũng như quản lý môi trường và thu được hiệu quả đáng kể. Song, đối với không ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng. Rất nhiều biện pháp khắc phục cũng như hạn chế tình hình ô nhiễm hiện nay ở các làng nghề đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo song kết quả thu được không đem lại nhiều khả quan.Cũng như nhiều nước trên thế giới, công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam cho đến nay chủ yếu được thực hiện theo cơ chế mệnh lệnh và kiểm soát ( Command and Control – CAC). Theo đó các cộng đồng cũng như các doanh nghiệp phải tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường cụ thể.
Vai trò của nhà nước là đảm bảo sự tuân thủ về môi trường thông qua các chương trình quan trắc và cưỡng chế nghiêm ngặt. Tuy nhiên hiệu quả của những chính sách quản lý môi trường này không thực sự thỏa mãn: thành công trong một số trường hợp nhưng cũng gây thất vọng trong rất nhiều trường hợp khác. Mặc dù có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý môi trường, phương pháp CAC trên thực tế cần được bổ sung bằng các công cụ khuyến khích cần thiết để xúc tiến việc kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường. ii Do vậy song song với việc ban hành và áp dụng các chính sách quản lý môi trường CAC, ngay từ những năm 1960 đã có nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào việc thiết kế và phân tích những chính sách quản lý môi trường nhằm tạo ra các khuyến khích ( incentive-based policies) kinh tế.
Những chính sách này được coi là linh hoạt hơn so với các chính sách quản lý môi trường CAC mang tính truyền thống.Cho tới nay đã có những bước tiến đáng kể trong sự hiểu biết về cả hai dạng chính sách quản lý môi trường này, đặc biệt thông qua thực tế áp dụng ở các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Công cụ kinh tế là một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ môi trường, đã và đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là trong các nước công nghiệp phát triển. Tính ưu việt của các công cụ kinh tế là chúng không những đưa ra được con số giới hạn tổ chức cho các quyết định về môi trường, mà còn cho phép định lượng riêng biệt từng trường hợp một cách linh hoạt, trong khi vẫn đảm bảo được yêu cầu chung về chất lượng môi trường trong toàn khu vực. Bên cạnh đó các công cụ kinh tế còn mang lại các lợi ích tiềm tàng như: Nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy sự đổi mới trong công nghệ kiểm soát ô nhiễm và giảm bớt chi phí trong kiểm soát ô nhiễm.
Tuy nhiên việc áp dụng công cụ kinh tế tại các làng nghề truyền thống còn tương đối hạn chế.Do vậy việc phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống là một trong những yêu cầu cấp thiết. Do vậy vậy với mong muốn nghiên cứu và sử dụng các công cụ kinh tế vào việc bảo vệ môi trường tại các làng nghề được nhiều hơn tôi đã lựa chọn đề tài:” Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cƣờng sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trƣờng làng nghề truyền thống”làm đề tài luận văn cao học. iii CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1.1 Khái niệm chung về quản lý môi trường, sự cần thiết phải quản lý môi trường 1.1 Khái niệm chung về quản lý môi trường Trước tiên chúng ta hiểu quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường ngoài. Quản lý môi trường là một dạng của quản lý.
Đó là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường nên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành. Sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường chính là việc tổ chức thực hiện các chức năng của quản lý môi trường nhằm phối hợp mục tiêu và các động lực hoạt động của mội người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống môi trường 1. Sự cần thiết phải quản lý môi trường. Xét về mặt tổ chức kỹ thuật của hoạt động quản lý, quản lý môi trường chính là sự kết hợp mọi sự lỗ lực chung của con người hoạt động trong hệ thống môi trường và việc sử dụng tốt các cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc phạm vi sở hữu của hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của toàn hệ thống và mục tiêu riêng của cá nhân hoặc nhóm người một cánh khôn khéo và có hiệu quả nhất.
Quản lý môi trường phải trả lời các câu hỏi “ Phải tiến hành các hoạt động phát triển nào, để làm gì?”, “Phải tiến hành hoạt động phát triển đó như thế nào, bằng cách nào?”, “Tác iv động tích cực và tiêu cực nào có thể xảy ra?”, “ Rủi ro nào có thể gánh chịu và cách xử lý ra sao?”. Quản lý môi trường được tiến hành chính là để tạo ra một hiệu quả hoạt động phát triển cao hơn, bền vững hơn so với hoạt động của từng cá nhân riêng rẽ hay của một nhóm người.Nói một cách khác, thực chất của quản lý môi trường là quản lý con người trong các hoạt động phát triển và thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của hệ thống môi trường.2 Đối tƣợng, mục tiêu, nội dung và các nguyên tắc của quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng.1 Đối tượng,mục tiêu của quản lý môi trường Quản lý môi trường, trước hết là quản lý một hệ thống bao gồm các phần tử (yếu tố) tự nhiên và nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên. Đó là một hệ thống bao gồm các phần tử của thế giới vô sinh và hữu sinh hoạt động theo những qui luật khác nhau và có con người tham dự. Mục tiêu của quản lý môi trường Mục tiêu chung, lâu dài và nhất quán của quản lý môi trường là nhằm góp phần tạo lập sự phát triển bền vững.
Đó là cách phát triển bền vững .Và được xem là một tiến trình đòi hỏi sự tiến triển đồng thời của cả bốn lĩnh vực: Kinh tế, xã hội nhân văn, môi trường và kỹ thuật với những mục tiêu cụ thể của từng lĩnh vực. Giữa bốn lĩnh vực này có mối quan hệ tương tác rất chặt chẽ và hành động trong lĩnh vực này có thể thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển 1.2 Nội dung của quản lý môi trường. Quản lý môi trường được cần tiến hành ở các cấp,ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình,.bao gồm các nội dung sau đây: + Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường. v + Xây dựng,chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng – chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường.
+ Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường….3 Các nguyên tắc quản lý môi trường. Các nguyên tắc quản lý môi trường là các qui tắc chỉ đạo những tiêu chuẩn hành vi mà các chủ thể quản lý phải tuân thủ trong suốt quá trình quản lý môi trường.3 Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trƣờng 1.1 Khái niệm Công cụ kinh tế là những chính sách nhằm thay đổi chi phí và lợi ích của những hành động của hoạt động kinh tế thường xuyên xảy ra tác động tới môi trường, tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra huỷ hoại môi trường.Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trường để đề ra các quyết định nhằm đạt tới mục tiêu môi trường, từ đó sẽ có cách ứng xử hiệu quả chi phí cho bảo vệ môi trường.1 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP). Nguyên tắc PPP có nguồn gốc từ sáng kiến của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OEDC) đề ra năm 1972 và 1974. PPP tiêu chuẩn năm 1972 cho rằng, những tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng chống ô nhiễm.PPP “Mở rộng” năm 1974 chủ trương rằng, các tác nhân gây ra ô nhiễm thì ngoài việc phải tuân thủ các chi phí khắc phục ô nhiễm gây ra còn phải chịu mọi khoản chi phí để thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính quyền tổ chức thực hiện, nhằm khắc phục và hoàn trả.2 Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền (BPP- Benefit pays principle ).
Nguyên tắc này chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu về môi trường.Đối nghịch với việc trực tiếp gây ô nhiễm phải trả tiền, người hưởng thụ một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả một khoản chi phí.