Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Núi Bà Đen thuộc tỉnh Tây Ninh sở hữu đỉnh núi cao 986m trên tổng diện tích tự nhiên 24km², được xếp hạng di tích lịch sử và danh thắng quốc gia từ năm 1989. Trong nhiều thập kỷ qua, nơi đây đóng vai trò là nguồn cung cấp vật liệu xây dựng chủ lực cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với 10 mỏ đá hoạt động, đạt tổng công suất khai thác 765.000m³/năm trên diện tích cấp phép khoảng 69,7ha. Tuy nhiên, quá trình khai thác khoáng sản lộ thiên kéo dài đã để lại những hệ lụy môi trường nghiêm trọng: thảm thực vật nguyên sinh bị thu hẹp, sườn núi bị biến dạng và các hố moong sâu đọng nước không được rào chắn an toàn, từng dẫn đến 02 tai nạn chết người thương tâm do trượt ngã.

Vấn đề cốt lõi hiện nay là việc thực hiện nghĩa vụ hoàn thổ theo Quyết định số 18/2013/QĐ-TTg còn mang tính cục bộ, rời rạc giữa các doanh nghiệp, chưa có phương án cải tạo cảnh quan đồng bộ. Thực trạng này tạo ra sự xung đột trực tiếp với định hướng phát triển tại Quyết định số 1099/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch quốc gia Núi Bà Đen quy mô 3.000ha, với mục tiêu đón 4.000.000 lượt khách vào năm 2025 và 6.000.000 lượt khách vào năm 2035.

Mục tiêu của luận văn là đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường và địa chất tại 10 mỏ đá, phân tích các điểm nghẽn trong công tác phục hồi độc lập, từ đó xây dựng bộ tiêu chí khoa học và đề xuất mô hình hoàn phục liên mỏ gắn kết với chuỗi giá trị du lịch sinh thái - tâm linh. Nghiên cứu giới hạn không gian tại cụm mỏ phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh trong giai đoạn 2020–2021, mang lại giải pháp cân bằng giữa bảo tồn di tích văn hóa và phát triển kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phục hồi môi trường mỏ bền vững (Sustainable Post-mining Reclamation Theory) làm nền tảng, căn cứ theo Luật Khoáng sản 2010 và Nghị định số 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ. Lý thuyết này nhấn mạnh việc đưa hệ sinh thái sau khai thác về trạng thái an toàn, tiệm cận tự nhiên và kiến tạo công năng sử dụng đất mới có giá trị kinh tế - xã hội cao hơn.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết ra quyết định đa tiêu chí (MCDM) thông qua phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process - AHP) do Thomas L. Saaty đề xuất năm 1980. Phương pháp này giải quyết bài toán phức tạp bằng cách phân cấp mục tiêu thành các nhánh tiêu chí định tính và định lượng, kết hợp thuật toán trung bình nhân theo hàng (RGMM) để xác định trọng số ưu tiên.

Khung phân tích kế thừa kinh nghiệm chuyển đổi cảnh quan mỏ trên thế giới, tiêu biểu như dự án công viên phức hợp Cap’Découverte tại Cộng hòa Pháp (quy mô 650ha với moong mỏ sâu 230m), dự án hồ sinh thái mỏ Polley tại Canada và mô hình hoàn nguyên của Tập đoàn Alcoa tại Australia giúp phục hồi hơn 96% thảm thực vật bản địa. Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: khai thác mỏ lộ thiên, góc dốc taluy an toàn, hồ trữ nước nhân tạo liên hoàn và hoàn phục sinh thái liên mỏ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đa tầng. Tác giả tiến hành điều tra xã hội học và khảo sát kỹ thuật bằng 10 phiếu phỏng vấn cấu trúc đối với toàn bộ 10/10 ban điều hành doanh nghiệp khai thác đá tại khu vực Núi Bà Đen. Cỡ mẫu bao phủ 100% đối tượng khai thác giúp phản ánh chính xác hiện trạng công nghệ bóc tầng, hệ thống thoát nước và năng lực tài chính ký quỹ hoàn thổ.

Công tác quan trắc thực địa tuân thủ nghiêm ngặt các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN), thực hiện lấy ngẫu nhiên 04 mẫu nước mặt tại các đáy moong sâu, 03 mẫu nước ngầm tại khu dân cư tiếp giáp, 03 mẫu đất bãi thải và 05 mẫu không khí xung quanh. Phương pháp phân tích thứ bậc AHP được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc tổng hợp ý kiến chuyên gia, đồng thời kiểm soát sai số thông qua tỷ số nhất quán CR. Giá trị CR đạt chuẩn dưới 0,10 đảm bảo độ tin cậy toán học cho việc xếp hạng các phương án cải tạo. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong 24 tháng (từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2021).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa ghi nhận 100% các mỏ đá tại chân Núi Bà Đen sau khi dừng khai thác chỉ thực hiện san ủi đáy moong đơn giản, chưa có giải pháp xử lý vách đá dựng đứng với độ dốc từ 60 đến 75 độ, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở cao trong mùa mưa bão (chiếm 90% lượng mưa cả năm). Các bãi thải đất đá cao từ 7 đến 10m chưa được che phủ sinh học, trở thành nguồn phát tán bụi mịn cuốn theo gió mùa Tây Nam.

Kết quả quan trắc cho thấy nồng độ tổng bụi lơ lửng (TSP) tại khu vực khai trường trong những ngày hanh khô dao động từ 0,35 đến 0,48 mg/m³, vượt ngưỡng quy định tại QCVN 05:2013/BTNMT khoảng 1,16 đến 1,60 lần. Đối với môi trường nước, 4/4 mẫu nước mặt tại đáy moong có hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) tăng cao sau các trận mưa lớn, vượt mức tiêu chuẩn cho phép từ 15% đến 22%, trong khi các chỉ tiêu kim loại nặng như Chì (Pb), Asen (As) và Thủy ngân (Hg) vẫn nằm trong giới hạn an toàn của QCVN 08-MT:2015/BTNMT.

Áp dụng phương pháp AHP với ma trận so sánh cặp, kết quả lượng hóa trọng số cho thấy nhóm tiêu chí "An toàn địa kỹ thuật và cảnh quan sinh thái" được đánh giá quan trọng nhất với trọng số 0,425 (chiếm 42,5%), nhóm tiêu chí "Tính khả thi liên kết du lịch - dịch vụ" đạt 0,318 (chiếm 31,8%) và nhóm tiêu chí "Chi phí kinh tế - xã hội hóa" chiếm 0,257 (tương đương 25,7%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy thoái cảnh quan là do cơ chế phê duyệt đề án cải tạo môi trường trước đây chỉ tiếp cận đơn lẻ theo từng ranh giới mỏ được cấp phép. Việc thiếu quy chuẩn chung khiến cốt cao độ giữa các moong mỏ liền kề chênh lệch từ 10 đến 30m, tạo nên địa hình lồi lõm, chia cắt không gian sinh thái tổng thể của quần thể Núi Bà Đen.

So sánh với các bài học thành công trong nước như Khu du lịch Bửu Long (Đồng Nai) chuyển đổi moong đá thành hồ sinh thái quanh năm, hay đề án chuyển đổi cụm mỏ Dĩ An (Bình Dương) thành công viên địa môi trường, cụm mỏ Núi Bà Đen có tiềm năng vượt trội khi nằm cạnh khu du lịch quốc gia đón hơn 4 triệu lượt khách mỗi năm.

Dữ liệu đánh giá đa tiêu chí được hệ thống hóa qua biểu đồ ma trận trọng số và bảng đối sánh kỹ thuật. Biểu đồ chỉ rõ rằng giải pháp giữ nguyên hiện trạng để tự phục hồi hoàn toàn không khả thi về mặt an toàn. Ngược lại, phương án cải tạo giật cấp taluy kết hợp chuyển đổi moong thành chuỗi hồ cảnh quan nhận được điểm số đồng thuận cao nhất từ hội đồng chuyên gia, mở ra hướng đi bền vững cho toàn bộ vùng phụ cận di tích.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm phục hồi toàn diện cụm mỏ đá Núi Bà Đen:

  1. Thiết kế kỹ thuật cải tạo bờ moong và ổn định sườn dốc: Tiến hành bạt mái taluy từ góc dốc hiện hữu 60–75 độ xuống dưới 35–45 độ theo phương pháp giật cấp bậc thềm. Sử dụng kỹ thuật ô cỏ bê tông đúc sẵn kết hợp lưới thép neo giữ đất tại các vị trí xung yếu, phủ xanh bề mặt bằng các loài cây bản địa có hệ rễ chùm phát triển mạnh. Thời gian triển khai từ quý I/2022 đến hết năm 2024, do các doanh nghiệp khai thác chủ trì dưới sự giám sát của Sở Xây dựng.
  2. Chuyển đổi moong khai thác thành hệ sinh thái hồ cảnh quan liên hoàn: Nạo vét đáy moong đạt độ sâu an toàn, kết nối dòng chảy tự nhiên giữa các hồ thông qua hệ thống mương dẫn để tạo dung tích trữ nước khoảng 1,5 đến 2,0 triệu m³. Nguồn nước này vừa điều hòa vi khí hậu cho diện tích 69,7ha khu vực chân núi, vừa cung cấp nước tưới nông nghiệp cho vùng đệm trước năm 2025.
  3. Tích hợp không gian mỏ vào Quy hoạch Khu du lịch quốc gia Núi Bà Đen: Điều chỉnh chức năng sử dụng đất sau khai thác sang đất thương mại - dịch vụ du lịch theo Quyết định 1099/QĐ-TTg. Xây dựng các phân khu chức năng như công viên thể thao mạo hiểm leo vách đá, bến thuyền du ngoạn lòng hồ và sân khấu biểu diễn thực cảnh ngoài trời, hoàn thành đồng bộ hạ tầng trước năm 2030.
  4. Xây dựng cơ chế tài chính và Quỹ quản lý hoàn phục liên mỏ: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành quy chế liên kết trách nhiệm giữa 10 doanh nghiệp khai thác, thành lập Ban điều phối hoàn thổ cụm mỏ trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường. Kêu gọi vốn xã hội hóa từ các tập đoàn du lịch lớn, giảm áp lực ngân sách nhà nước và hoàn tất bàn giao mặt bằng sạch giai đoạn 2023–2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và quy hoạch: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương, Sở Xây dựng và Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Dữ liệu luận văn cung cấp căn cứ khoa học chuẩn xác để thẩm định đề án đóng cửa mỏ, lập phương án sử dụng đất sau khai thác và giám sát quỹ ký quỹ môi trường.
  • Doanh nghiệp khai thác khoáng sản: Ban lãnh đạo và kỹ sư mỏ tại 10 đơn vị khai thác đá Tây Ninh cùng các doanh nghiệp khai thác mỏ lộ thiên khu vực Đông Nam Bộ. Luận văn cung cấp hướng dẫn kỹ thuật hạ dốc vách đá và quy trình phủ xanh sinh học, giúp giảm thiểu 15–20% chi phí xử lý sự cố môi trường phát sinh.
  • Nhà đầu tư phát triển bất động sản du lịch và dịch vụ: Các tập đoàn du lịch sinh thái, giải trí đang tìm kiếm quỹ đất sạch quy mô gần 70ha liền kề danh thắng Núi Bà Đen để kiến tạo các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng mới lạ.
  • Học viên, giảng viên và nhà nghiên cứu học thuật: Chuyên gia thuộc khối ngành Quản lý Tài nguyên, Kỹ thuật Môi trường, Địa chất công trình ứng dụng phương pháp AHP và thuật toán RGMM vào giải quyết các bài toán tối ưu hóa quy hoạch lãnh thổ phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc phục hồi môi trường đơn lẻ từng mỏ đá tại Núi Bà Đen lại không mang lại hiệu quả cảnh quan?
Do địa hình khai thác liền kề nhưng đáy moong của từng đơn vị có cao độ chênh lệch từ 10 đến 30m. Khi các doanh nghiệp tự làm bờ bao riêng lẻ, ranh giới giữa các mỏ bị xé nhỏ, tạo thành các vách ngăn nguy hiểm, gây ứ đọng nước cục bộ và phá vỡ cấu trúc thẩm mỹ tổng thể của khu danh thắng 24km².

Phương pháp phân tích thứ bậc AHP đóng vai trò gì trong việc lựa chọn giải pháp hoàn thổ?
Phương pháp AHP giúp lượng hóa các yếu tố định tính về môi trường và cảnh quan thành các con số trọng số chính xác. Việc kiểm soát tỷ số nhất quán CR luôn nhỏ hơn 0,10 giúp loại bỏ các phán đoán cảm tính, đảm bảo phương án kỹ thuật được chọn thỏa mãn đồng thời cả 3 mục tiêu: an toàn, mỹ quan và hiệu quả kinh tế.

Các moong đá sau khi ngưng khai thác có thể tái sử dụng vào những mục đích du lịch nào?
Tận dụng chiều sâu đáy mỏ và vách đá thẳng đứng, các moong có thể cải tạo thành hồ bơi sinh thái, công viên thể thao mạo hiểm chèo thuyền kayak, khu cắm trại dã ngoại hoặc sân khấu nhạc nước ngoài trời tương tự mô hình Cap’Découverte tại Pháp với đường kính moong lên tới 1.300m.

Hành lang pháp lý hiện hành tại Việt Nam quy định nghĩa vụ cải tạo môi trường mỏ như thế nào?
Hoạt động này được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Bảo vệ Môi trường 2020, Luật Khoáng sản 2010, Nghị định 19/2015/NĐ-CP và Quyết định 18/2013/QĐ-TTg. Doanh nghiệp bắt buộc phải lập đề án cải tạo phục hồi môi trường, thực hiện ký quỹ tài chính định kỳ và đưa môi trường về trạng thái an toàn trước khi đóng cửa mỏ.

Kinh nghiệm hoàn thổ mỏ từ Australia và Canada có thể áp dụng ra sao cho Tây Ninh?
Tây Ninh có thể tiếp thu kỹ thuật bảo tồn lớp đất mặt màu mỡ để tái gieo hạt giống cây rừng bản địa theo mô hình của Tập đoàn Alcoa (Australia), kết hợp giải pháp tạo lập vùng đệm ngập nước sinh học đa tầng theo chuẩn mỏ Polley (Canada) nhằm xử lý nước mưa chảy tràn tự nhiên.

Kết luận

  • Đánh giá chi tiết hiện trạng kỹ thuật và nguy cơ ô nhiễm tại 10 mỏ đá khu vực Núi Bà Đen với quy mô khai thác 765.000m³/năm trên diện tích gần 69,7ha.
  • Xây dựng thành công bộ tiêu chí đánh giá đa mục tiêu bằng phương pháp AHP với tỷ số nhất quán CR đạt chuẩn khoa học dưới 0,10.
  • Chứng minh tính cấp thiết của việc chuyển đổi phương thức hoàn thổ từ tiếp cận cơ học, đơn lẻ sang quy hoạch liên mỏ tích hợp cảnh quan.
  • Đề xuất gói giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, kết nối chặt chẽ với Quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch quốc gia Núi Bà Đen diện tích 3.000ha theo Quyết định 1099/QĐ-TTg.
  • Kiến tạo cơ chế hợp tác công - tư và quỹ ủy thác môi trường giúp huy động hiệu quả nguồn vốn xã hội hóa cho địa phương.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp khung giải pháp toàn diện giúp biến các hố mỏ hoang tàn thành tài nguyên du lịch sinh thái giàu tiềm năng. Lộ trình thực hiện chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 2022–2025 tập trung ổn định mái dốc và phủ xanh sinh thái; giai đoạn 2025–2035 hoàn thiện chuỗi dịch vụ du lịch phục vụ 6.000.000 lượt du khách. Các nhà quản lý, nhà đầu tư và doanh nghiệp cần chung tay hành động ngay hôm nay để bảo vệ bền vững di sản Núi Bà Đen.