Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài: Trong phần này tôi sẽ trình bày về tính cấp thiết của đề tài cùng với mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Một số vấn đề lí luận cơ bản về quản trị chuỗi cung ứng: Chương này sẽ là một số lí thuyết của SCM bao gồm: khái niệm về SCM, phạm vi chuỗi cung ứng, các thành viên trong chuỗi cung ứng, vai trò của SCM đối với hoạt động kinh doanh, các yếu tố xác lập hiệu quả và hiệu năng của chuỗi cung ứng. để tạo nền tảng cho việc đi sâu nghiên cứu các vấn đề có liên quan trong chương 3. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng quản trị chuỗi cung ứng cà phê xuất khẩu của công ty Thái Hòa: phần này nêu ra các phương pháp nghiên cứu đề tài và 4 Luan van gắn thực tiễn của doanh nghiệp vào các lí thuyết đã được đề cập ở chương 2, để qua đó đánh giá một cách tổng quan về thực trạng SCM của Thái Hòa.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất với quản trị chuỗi cung ứng giá trị cà phê của công ty Thái Hòa: sau quá trình đánh giá, phần này tôi sẽ đưa ra các kết luận về thành công cũng như những hạn chế của hoạt động SCM tại Thái Hòa. Dự báo thị trường cà phê xuất khẩu và chiến lược kinh doanh của công ty sẽ là căn cứ để tôi đưa ra các đề xuất với nhà quản trị của công ty và kiến nghị với cơ quan quản lí nhà nước. 5 Luan van CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm chuỗi cung ứng Một chuỗi cung ứng (Supply chain) là một tập hợp gồm 3 hay nhiều doanh nghiệp kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp bằng một hay nhiều dòng chảy của sản phẩm, thông tin và tài chính trong quá trình đáp ứng yêu cầu của khách hàng - Dòng sản phẩm: con đường dịch chuyển của hàng hóa và dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng, đảm bảo đủ về chất lượng và số lượng. - Dòng tài chính: thể hiện sự thanh toán của khách hàng đối với nhà cung cấp, bao gồm các giao dịch tín dụng, các quá trình thanh toán và ủy thác, các dàn xếp về sở hữu.
- Dòng thông tin: dòng giao và nhận các đơn đặt hàng, theo dõi quá trình dich chuyển của hàng hóa và chứng từ giữa người gửi và người nhận, thể hiện sự trao đổi thông tin hai chiều và đa chiều giữa các thành viên, kết nối các nguồn lực tham gia chuỗi ung ứng, giúp chuỗi cung ứng vận hành hiệu quả.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Diễn đàn chuỗi cung ứng toàn cầu (GSCF, 1998): SCM là sự tích hợp các quy trình kinh doanh cơ bản từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu dùng cuối cùng để cung cấp hàng hóa, dịch vụ và thông tin làm gia tăng giá trị cho khách hàng và các thành viên khác trong chuỗi cung ứng.2 Một số nội dung lí thuyết về Quản trị chuỗi cung ứng 2.1 Phạm vi của chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào số lượng và loại hình các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng. Phạm vi của chuỗi cung ứng có thể chia ra làm 3 nhóm, được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp. - Chuỗi cung ứng trực tiếp: Bao gồm 1 doanh nghiệp trung tâm với các nhà cung cấp và các nhóm khách hàng trực tiếp của doanh nghiệp đó. Đây là nhóm thành viên cơ bản tạo nên một chuỗi cung ứng.
6 Luan van - Chuỗi cung ứng mở rộng: Gồm có chuỗi cung ứng trực tiếp với sự tham gia mở rộng của nhà cung cấp đầu tiên trong chuỗi và khách hàng tiêu dùng cuối cùng. - Chuỗi cung ứng hoàn chỉnh: Là chuỗi cung ứng mở rộng cùng với toàn bộ các công ty cung cấp dịch vụ cho các thành viên chính trong chuỗi. Đó là các công ty làm thầu phụ, công ty dịch vụ vân tải, kinh doanh kho bãi, công ty cung cấp hệ thống thông tin…Đây là các doanh nghiệp liên quan 1 cách gián tiếp đến chuỗi cung ứng nhưng đóng một vai trò quan trọng để hoạt động của chuỗi cung ứng diễn ra liên tục, nhịp nhàng và hiệu quả.2 Các thành viên trong chuỗi cung ứng Trong bất kì chuỗi cung ứng nào luôn có sự kết hợp các công ty thực hiện các chức năng khác nhau. Các thành viên chính của chuỗi là nhà cung cấp vật liệu, nhà sản xuất, nhà phân phối, doanh nghiệp bán lẻ, và người tiêu dùng cuối cùng.
Hỗ trợ cho các công ty này là các nhà cung cấp dịch vụ cần thiết. - Công ty cung cấp nguyên vật liệu đầu vào: Họ có thể là các nông trại chăn nuôi, trồng trọt hay đánh bắt hải sản …cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm; các công ty hóa chất, nhựa, gỗ, giấy… cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp nhẹ; các công ty thép, xi măng phụ gia… cung cấp nguyên vật liệu cho ngành xây dựng. - Nhà sản xuất: Là doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu và các bán thành phẩm của công ty khác để làm ra các sản phẩm thành phẩm. Đó có thể là các sản phẩm hữu hình, đó có thể là dịch vụ.
Những sản phẩm và dịch vụ này có thể được tiêu thụ trong nội địa hay xuất khẩu ra thị trường quốc tế. - Nhà phân phối: Là các doanh nghiệp mua hàng với khối lượng lớn từ nhà sản xuất để bán lại cho các nhà bán lẻ hoặc các công ty sử dụng vào mục đích riêng của mình. Đối với các nhà sản xuất, đây là nơi điều phối và cân bằng cung cầu trên thị trường bằng cách dự trữ hàng hóa và thực hiện các hoạt động tìm kiếm và phục vụ khách hàng. Đối với khách hàng, các nhà phân phối thực hiện chức năng và địa điểm họ đưa sản phẩm đến tay khách hàng vào lúc khách hàng muốn và đến nơi khách hàng cần.
- Nhà bán lẻ: Là các doanh nghiệp mua hàng từ nhà phân phối hoặc mua trực tiếp từ nhà sản xuất để bán tới tay người sử dụng cuối cùng. Khách hàng của nhà bán lẻ thường mua sắm với số lượng nhỏ, tần số mua lặp lại nhiều lần trong tuần/tháng/năm. Doanh 7 Luan van nghiệp bán lẻ phối hợp nhiều yếu tố như: mặt hàng đa dạng phong phú, giá cả phù hợp, tiện ích và thoải mái trong mua sắm… để thu hút tới điểm bán cua mình. - Khách hàng: Là thành tố tiên quyết của chuỗi cung ứng.
Mục đích then chốt của bất kì chuỗi cung ứng nào là thỏa mãn yêu cầu của khách hàng trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính nó. Các hoạt động của chuỗi cung ứng bắt đầu với đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng nhận được hàng hóa và thanh toán đơn đặt hàng của họ. Khách hàng của chuỗi cung ứng có thể chia làm hai nhóm: khách hàng tiêu dùng cuối cùng và khách hàng là tổ chức. - Nhà cung cấp dịch vụ: Đây là các công ty cung cấp các loại hình dịch vụ khác nhau cho các thành viên chính trong chuỗi.
Các doanh nghiệp dịch vụ đóng góp những lợi ích thiết thực cho chuỗi cung ứng ở chỗ giúp các thành viên chính trong chuỗi có thể mua sắm sản phẩm ở nơi họ cần, cho phép người mua và người bán giao tiếp một cách hiệu quả, cho phép doanh nghiệp phục vụ các thị trường xa xôi, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vận tải nội địa và quốc tế, và nói chung là giúp doanh nghiệp phục vụ tốt khách hàng với tổng chi phí thấp nhất có thể. Nhờ năng lực chuyên môn hóa cao với các tài sản, thiết bị đặc thù mà họ có thể thực hiện các dịch vụ hiệu quả hơn ở một mức giá hợp lí hơn so với việc các doanh nghiệp sản xuất, phân phối, bán lẻ, hay khách hàng tự làm. Các thành viên trong chuỗi cung ứng cố gắng tối ưu hóa hoạt động của mình khi cùng hướng tới mục tiêu chung của chuỗi. Thông thường, có một doanh nghiệp mạnh đóng vai trò “lãnh đạo” trong chuỗi.
Doanh nghiệp này thường có quy mô và năng lực quản lí để chi phối các thành viên khác trong chuỗi. Mỗi thành viên sẽ tập trung vào năng lực cốt lõi của mình và tham gia vào hoạt động của chuỗi một cách tự nguyện, cùng chia sẻ và phối hợp vì lợi ích tổng thể của chuỗi.3 Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng đối với hoạt động kinh doanh a. Mục tiêu của chuỗi cung ứng Mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống. Giá trị tạo ra của chuỗi cung ứng là sự khác biệt giữa giá trị sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực mà chuỗi cần dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Đối với hầu hết các chuỗi cung ứng, giá trị có mối liên quan mật thiết với lợi nhuận của chuỗi, đó là 8 Luan van sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho công ty đối với việc sử dụng sản phẩm/dịch vụ và tổng chi phí của toàn chuỗi. Mục tiêu tối đa hóa giá trị của toàn hệ thống chỉ có thể đạt được thông qua việc cân đối giữa tính hiệu quả và tính hiệu năng trong toàn chuỗi. Trong đó cấu trúc của chuỗi cung ứng phải được thiết kế phù hợp với chiến lược chuỗi cung ứng nói riêng và thích nghi với chiến lược cạnh tranh nói chung của doanh nghiệp và của chuỗi cung ứng. Trong đó tính hiệu quả và hiệu năng của chuỗi cung ứng có thể hiểu được là: - Hiệu quả: đáp ứng đúng những yêu cầu của khách hàng - Hiệu năng: đáp ứng nhu cầu khách hàng với nguồn lực thấp nhất Hiệu quả của chuỗi cung ứng thể hiện năng lực của chuỗi trong việc đáp ứng đủ khối lượng hàng hóa mà thị trường cần, vào đúng thời điểm cần giao hàng với khả năng xử lí và tập hợp được chính xác lô hàng với nhiều loại hàng hóa đa dạng khác nhau, đồng thời đảm bảo được chất lượng dịch vụ khách hàng.
Để đạt hiệu quả cao, khả năng đáp ứng tốt trước những đòi hỏi luôn biến động của thị trường, chuỗi cung ứng phải đầu tư và tốn chi phí để chế tạo và phân phối sản phẩm tới tay khách hàng. Mức độ chi phí thể hiện tính hiệu năng của chuỗi và ảnh hưởng đến lợi nhuận tổng thể của chuỗi.