Chương 1: Tổng quan tài liệu. Chương 2: Cơ sở lí luận về chuỗi cung ứng. Chương 3: Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng cá chỉ vàng nội địa của Công ty cổ phần Chế biến Xuất khẩu Thủy sản Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chương 4: Giải pháp ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng 14 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan tài liệu trong nƣớc Đối với Việt Nam việc tiếp cận và nghiên cứu về chuỗi cung ứng đã có tuy nhiên còn khá mới và hầu hết chỉ nằm ở mức độ chưa chuyên sâu như: Trong một báo cáo Nguyễn Thị Hồng Đăng (năm 2006, trang 1) đã nghiên cứu về đề tài “Ứng dụng một số mô hình lý thuyết chuỗi cung ứng trong việc cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng công ty KODA”. Một nghiên cứu gần đây về Với đề tài “Nghiên cứu chuỗi cung ứng của mặt hàng Cá tra, Cá basa tại Công ty Cổ phần Nam Việt” trên website: http://123doc.vn/document/115174-nghien-cuu-chuoi-cung-ung-cua-mat-hang- ca-tra-ca-basa.htm (Trang 5) Đã viết “ * Đối với tác giả: củng cố các kiến thức luận chung về lợi thế cạnh tranh, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị đã được học trong chương trình cao học và thực tiễn doanh nghiệp. Tăng cường kỹ năng của chính tác giả trong việc nghiên cứu chuỗi cung ứng từ vùng nuôi, chế biến, xuất khẩu, phân phối…Đây cũng là cơ sở để tác giả có thể thực hiện những cuộc nghiên cứu sâu hơn và rộng hơn trong nhiều lĩnh vực khác. Đối với Công ty Cổ phần Nam Việt - Đề tài này sẽ cung cấp cho Ban lãnh đạo một mô hình tổng thể cho việc tối ưu hóa các hoạt động từ khâu điều phối nguồn nguyên liệu đến khi phân phối sản phẩm cuối cùng được nghiên cứu sâu, có cơ sở khoa học và số liệu thực tiễn để xem xét và từ đó có thể đưa ra các quyết định cần thiết cho doanh nghiệp trong việc đạt được các mục tiêu.
- Giúp các khâu trong chuỗi cung ứng liên kết lại với nhau tạo thành một mắt xích vững chắc thuận lợi trong việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, nhằm đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường khó tính, gia tăng sự thỏa mãn của khách hàng và các bên liên quan thông qua việc cải thiện các mối quan hệ trong chuỗi cung ứng để tạo lợi thế cạnh tranh. - Làm nổi bật những khoảng cách còn tồn tại trong hoạt động chuỗi cung ứng, những vấn đề cần phải thay đổi để Công ty phát triển bền vững. Đối với các nhà cung cấp, khách hàng - Nhà cung cấp được hưởng lợi khi mô hình được thực hiện thông qua: thông tin về tiêu chuẩn nguyên liệu được minh bạch, thời gian nhận đơn hàng được rút ngắn… - Khách hàng sẽ tăng sự hài lòng vì được nhận hàng đúng phẩm chất, chất lượng và thời gian… Đối với ngành nuôi và chế biến Cá Tra, Cá Basa ở Việt Nam: - Cung cấp những phân tích súc tính, có giá trị về việc nghiên cứu xây dựng và quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm trong ngành nuôi và chế biến Cá Tra, Cá Basa ở Việt Nam. 15 - Đưa ra mô hình chuỗi cung ứng phù hợp với tiêu chuẩn Global GAP, tiêu chuẩn BRC mà các doanh nghiệp cùng ngành khác ở Việt Nam có thể tham khảo - Lý thuyết về quản trị chuỗi cung ứng - Chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh cung cấp một sản phẩm hay một dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng Mô hình Quản trị chuỗi cung ứng là hoạch định, thiết kế, và kiểm soát luồng thông tin và nguyênvật liệu theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được hiệu quả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai.3 điểm chính về tính năng động của chuỗi cung ứng :(1)Chuỗi cung ứng là hệ thống có tính tương tác rất cao.
Các quyết định ở mỗi bộ phân của chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến bộ phận khác(2)Chuỗi cung ứng có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi của nhu cầu. Kho và nhà máy phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ đối với các đơn hàng lớn.(3)Các tốt nhất để cải thiện chuỗi cung ứng là rút ngắn thời gian bổ sung và cung cấp thông tin về nhu cầu thực tế đến các kênh phân phối. Thời gian trong chuỗi cung ứng chỉ dùng để tạo ra sự thay đổi trong các đơn hàng và hàng tồn kho.” Bài báo trên trang Nông nghiệp Việt Nam của tác giả Bùi Nguyễn (ngày 04/09/2012), với tên bài viết là “Chuỗi cung ứng rau quả xuất khẩu: Vì sao rối?”, trên website: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/1/15/100087/Chuoi-cung-ung-rau-qua- XK-Vi-sao-roi.aspx Đã viết về chuỗi cung ứng rau quả xuât khẩu “Kim ngạch xuất khẩu (XK) đạt trên 630 triệu USD (năm 2011) và được đánh giá là nước có tiềm năng rất lớn trong cung ứng rau, quả cho tiêu dùng thế giới, nhưng VN lại đang rơi cảnh “rối như canh hẹ” trong quá trình thiết lập chuỗi cung ứng XK.” Một nghiên cứu về hãng điện tử nổi tiếng thế giới DELL của tác giả là nhóm sinh viên khoa Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (được đăng ngày 16/11/2010), có tên là “DELL và mô hình chuỗi cung ứng DNA”, trên website: http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/bao-cao-dell-va-mo-hinh-chuoi-cung-ung-dna- .html (Trang 9) Đã viết về chuỗi cung ứng của DELL như “Cốt lõi trong hoạt động kinh doanh của Dell là tập trung vào việc gia tăng cường độ thương mại và giảm thiểu chi phí thừa. Các nhân viên của Dell luôn chú trọng vào việc giảm lượng hàng dự trữ , phát triển các phương pháp tốt nhất, và tạo ra sự hỗ trợ của các quá trình có liên quan.
Mổ xẻ cấu hình chuỗi DNA của Dell có thể giúp ta hiểu rõ làm thế nào mà đội ngũ nhân viên của Dell có thể đạt được thành tựu như ngày hôm nay. Khả năng quản lý nguồn cung ứng của Dell bao gồm 4 yếu tố: quản lý nhu cầu, tương tác nội bộ, kết nối các đối tác và các nền tảng về tài chính. Mỗi một yếu tố trên phụ thuộc vào đội ngũ nhân viên năng động, tinh thông được hướng dẫn bởi các quá trình kinh doanh có chủ đích.” Ông lớn của chuỗi bán lẻ thế giới như Wal-Mart cũng được nhiều người quan tâm về quản trị chuỗi cung ứng của họ và được nhóm sinh viên nghiên cứu (đăng vào ngày 22/09/2012), có tên là “Chuỗi cung ứng của Wal-Mart”, trên website: 16 http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/chuoi-cung-ung-cua-wal-mart.html (Trang 29) Đã viết về chuỗi cung ứng của Wal-Mart như “Thực tiễn quản trị chuỗi cung ứng của Wal-Mart cho thấy hiệu quả trong việc điều hành và dịch vụ khách hàng tốt hơn. Nó loại bỏ các loại hàng cũ và duy trì chất lượng hàng hóa.
Kho đa năng (cross docking) cũng giúp Wal-Mart giảm thiểu chi phí tồn kho. Nó cũng giúp cắt giảm lao động và các chi phí làm hàng liên quan đến việc bốc và dỡ hàng hóa.” SamSung một hãng điện tử nổi tiếng nên cũng được các sinh viên Việt Nam quan tam và nghiên cứu về chuỗi cung ứng để thông qua đó học hỏi cách quản trị chuỗi của SamSung với tác giả là sinh viên (được đăng vào ngày 22/09/2012), với tên tiểu luận “Chuỗi cung ứng SamSung”, trên website: http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/tieu-luan-chuoi-cung-ung- cuasamsung.html (Trang 16) Trong báo cáo này đã viết về chuỗi cung ứng của SamSung như sau “Chuỗi cung ứng của công ty Samsung là một chuỗi cung ứng đạt được tiêu chuẩn phù hợp với nhu cầu của khách hàng vì với mối quan hệ tốt với các đối tác và chiến lược kinh doanh dựa trên khối lợi thế cạnh tranh cải tiến vượt trội, Samsung có thể đem đến cho khách hàng của mình những sản phẩm mới nhất với thời gian nhanh nhất có thể.” Đối với một thương hiệu nổi tiếng như Apple cũng đã được nhiều người nghiên cứu về chuỗi cung ứng của Apple như trong bài viết của tác giả Du Lam (ngày 08/11/2011), với tên “ Chuỗi cung ứng vũ khí chiến lược của Apple”, trên website: http://www.vn/home/Ho-so/31/Chuoi-cung-ung-Vu-khi-chien-luoc- cua-Apple/97373/index.ict Trong đó có viết “Chi “bạo tay” cho chuỗi cung ứng. Chính khâu này giúp Apple xử lí được lượng hàng lớn mỗi khi tung ra mà không cần lo lắng về lượng hàng tồn kho giá trị lớn; cho phép một công ty thường xuyên bị chỉ trích vì bán sản phẩm giá cao hơn mọi đối thủ vẫn có thể kiếm được 25% lợi nhuận trên mỗi iPad (theo ước tính của chuyên gia phân tích Gene Munster từ hãng nghiên cứu Piper Jaffray). Nếu những tin đồn mới nhất là sự thực, hệ thống vận hành của Apple dường như là yếu tố quan trọng giúp công ty đủ tự tin gia nhập thị trường tivi năm 2013 bằng mẫu tivi tích hợp phần mềm sẵn có của Apple như iTunes.
Theo Munster, sự hoài nghi về khả năng cạnh tranh của Apple trong thị trường đặc biệt nhạy cảm về giá, nơi lợi nhuận thường chỉ gói gọn trong 1 chữ số là “chính xác những gì mọi người nói khi Apple đặt chân vào mảng điện thoại di động”. Tổng quan tài liệu ngoài nƣớc Với chuỗi cung ứng Strategic Alliances in the U. Beef Supply của tác giả Mulrony and Chaddad (năm 2005), được đăng trên Journal of Food Distribution Research với tên “Strategic Alliances in the U. Beef Supply” trên website: https://docs.com/viewer?a=v&q=cache:VB_L6xrVkrsJ:ageconsearch.pdf+beef+supply+chain+management&hl =vi&gl=vn&pid=bl&srcid=ADGEESg_NNbfygJ- CHrN_VS2wnDoS37KHmaulcWcyBzsqJveBzL9WNssL4mLlGt5pZdtn0c- 17 qVOmEHFvPrafwdZBi17breonmteQZYtv- Bc48bgfHdShujZHQZKJP5VBI1wPBWoyufq4&sig=AHIEtbSpRsdh1V3UQc 9EYYxN4M7UixTAMQ (Trang 2) Đã trình bày như sau “Beef alliances use contracts and incentive structures to link stages of the supply chain and to create a marketing organization (Anton 2002).
Many reasons have been identified for beef alliance formation including reduced costs, higher market prices, and securing market outlet. Many of the contracts observed in beef alliances stipulate payment rules, most often in the form of a pricing grid. Alliances are also used as a means to bring together producers in multiple stages of the supply chain, sharing the same marketing goals and decreasing barriers to information transfer. In doing so, alliances allow an efficient transfer of consumer preferences through the supply chain.” Liên minh thịt bò sử dụng hợp đồng và những cơ cấu khuyến khích để liên kết các giai đoạn của chuỗi cung ứng và để tạo ra một tổ chức tiếp thị (Anton 2002).
Rất nhiều lý do đã được xác định cho việc hình thành liên minh thịt bò bao gồm giảm chi phí, giá cả thị trường cao hơn, và đảm bảo thị trường đầu ra. Nhiều người giám sát hợp đồng trong liên minh thịt bò đã quy định số tiền bồi thường, phần lớn thường ở hình thức mạng lưới giá cả. Liên minh cũng được sử dụng như một phương tiện để mang lại cùng các nhà sản xuất trong nhiều giai đoạn của chuỗi cung ứng, chia sẻ cùng một mục tiêu tiếp thị và giảm các rào cản đối với chuyển giao thông tin. Khi làm như vậy, liên minh cho phép chuyển giao hiệu quả của các sở thích của người tiêu dùng thông qua chuỗi cung ứng.