CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG CÁ TRA 1.1 Lý thuyết về chuỗi cung ứng 1.1 Cơ sở lí luận về chuỗi cung ứng Nền tảng cơ sở lí luận về chuỗi cung ứng được xem xét dựa trên bức tranh tổng quát các giai đoạn phát triển của chuỗi cung ứng theo thời gian. Thực tiễn chuỗi cung ứng bị chi phối bởi những khái niệm cơ bản gần như không hề thay đổi qua nhiều giai đoạn dưới các tên gọi thay thế khác nhau. 1995: Hình thành khái niệm 1950: Hình thành 1970: Hoàn thiện 1980: Hình thành “Quản trị chuỗi cung ứng” khái niệm hậu cần khái niệm hậu cần khái niệm “quản trị trong lĩnh vực dịch vụ chuỗi cung ứng” 1950-1970 1970-1980 1980-1990 1990-nay Hậu cần trong “chuỗi cung ứng” 1985: Hình thành khái niệm 2007: Đưa “quản trị “ Quản trị chuỗi cung ứng” chuỗi cung ứng” trong lĩnh vực sản xuất vào trong giáo dục (Nguồn: Habib and Jungthirapanich, 2008) Hình 1.1 Sơ đồ dòng phát triển của khái niệm “Quản trị chuỗi cung ứng” Giai đoạn 1 (1950-1970): Hình thành khái niệm hậu cần Theo các tài liệu về chuỗi cung ứng, trước năm 1950 chuỗi cung ứng được biết đến chính là công tác hậu cần trong quân đội. Công tác này bao gồm quá trình sản xuất, mua sắm, vận chuyển trang thiết bị, nguyên vật liệu cho các đơn vị quân đội.
Khái niệm hậu cần liên quan đến kinh doanh bắt nguồn từ những năm 1950. Điều này chủ yếu là do sự gia tăng trong việc cung cấp, vận chuyển trong một thế giới toàn cầu hóa đòi hỏi phải có những nhà chuyên gia trong lĩnh vực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giai đoạn 2 (1970-1980): Hậu cần trong chuỗi cung ứng (Logistic) Logistic chuỗi cung ứng phát triển vào những năm 1980. Quan điểm này nhìn nhận logistic là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tài chính giữa các công ty (các xưởng sản xuất, các cơ sở trong công ty) trong một chuỗi thống nhất.
Theo tác giả của “4th The Handbook of Logistics & Distribution Management” cho thấy: Logistics= Quản lí nguyên vật liệu + phân phối Giai đoạn 3 (1980-1990): Hình thành khái niệm quản trị chuỗi cung ứng (Chuỗi giá trị) Thập niên 1980 được xem như là thời kỳ bản lề của quản trị chuỗi cung ứng. Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên sử dụng một cách rộng rãi trên nhiều tờ báo, ở tạp chí, cụ thể là vào năm 1982 và đến năm 1985 hình thành khái niệm “quản trị chuỗi cung ứng” trong lĩnh vực sản xuất. Khái niệm “Quản trị chuỗi cung ứng” vào năm 1985 được hiểu là = khái niệm chuỗi giá trị của Micheal Poter. Về thực chất, đây là một tập hợp các hoạt động nhằm thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của doanh nghiệp.
Chuỗi giá trị bao gồm 5 hoạt động chính (cung ứng đầu vào, quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm, marketing, bán hàng và dịch vụ) và 4 hoạt động hỗ trợ (quản trị tổng quát, quản trị nhân sự, phát triển công nghệ và hoạt động thu mua) (Poter, 2010). CUNG QUÁ TRÌNH PHÂN BÁN ỨNG ĐẦU MARKETING SẢN XUẤT PHỐI HÀNG VÀO (Nguồn: Poter, 2010).2 Chuỗi giá trị của Micheal Poter TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Giai đoạn 4 (từ 1990 đến nay): áp dụng chuỗi cung ứng vào trong dịch vụ và giáo dục - Năm 1995: Hình thành khái niệm chuỗi cung ứng trong lĩnh vực dịch vụ Chuỗi cung ứng dịch vụ là một mạng lưới bao gồm nhà cung cấp ban đầu, những nhà cung ứng dịch vụ thứ cấp, khách hàng và các đơn vị hỗ trợ. Các đơn vị hỗ trợ đóng vai trò lưu chuyển các nguồn lực cần thiết để chuẩn bị tạo ra các dịch vụ; chuyển đổi những nguồn lực đó để hỗ trợ cho các dịch vụ chủ chốt và mang những dịch vụ này đến với khách hàng. Quản trị chuỗi cung ứng dịch vụ bao gồm quản trị thông tin, các khâu trong vận hành, nguồn lực và chất lượng dịch vụ từ người cung ứng ban đầu đến khách hàng cuối cùng (Baltacioglu et al., 2007) Năm 2007: Đưa chuỗi cung ứng vào trong giáo dục “Mục tiêu của chuỗi cung ứng giáo dục bao gồm nâng cao chất lượng sinh viên tốt nghiệp và chất lượng của những người làm về nghiên cứu với nguồn lực giới hạn cho xã hội, xã hội là khách hàng cuối cùng của chuỗi cung ứng này.
Chuỗi cung ứng giáo dục của đại học và cao đẳng bao gồm các thành tố: nguồn cung cấp đầu vào (trường cấp 3, cao đẳng); nguồn cung cấp dịch vụ giáo dục (các trường đại học và cao đẳng); nguồn tài chính trong chuỗi (các hộ gia đình, phụ huynh học sinh, nhà nước, tổ chức riêng, học bổng,…); nguồn cung cấp cơ sở vật chất giáo dục và nguồn cung cấp giáo trình học tập” (Khuyen Thi Minh Pham and Yen Thi Mai Pham, 2014).2 Định nghĩa về chuỗi cung ứng “Chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các công ty chịu trách nhiệm mang sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường” (Lambert et al, 1998). “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc thỏa mãn yêu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và người phân phối, mà còn có cả người vận chuyển, nhà xưởng, người bán lẻ và bản thân khách hàng” (Chopra et al, 2003). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 “Chuỗi cung ứng bao gồm các công ty và những hoạt động kinh doanh cần thiết để thiết kế, sản xuất, phân phối và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ.
Các doanh nghiệp phụ thuộc vào chuỗi cung ứng để nhận được những thứ cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và đảm bảo cho sự phát triển thịnh vượng của mình. Mỗi doanh nghiệp thích hợp với một hoặc nhiều chuỗi cung ứng và đóng vai trò nhất định trong từng chuỗi cung ứng” (Hugos, 2010). “Chuỗi cung ứng là mạng lưới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngược và xuôi theo những tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng” (Christopher, 2012). Beamon, một chuỗi cung ứng có thể được định nghĩa là một quá trình tích hợp trong đó gồm một số các thực thể kinh doanh khác nhau (ví dụ, các nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối và bán lẻ) làm việc nổ lực cùng nhau để: (1) có được nguyên liệu, (2) chuyển đổi những nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng được xác định, và (3) cung cấp những sản phẩm cuối cùng đến các nhà bán lẻ.
Chuỗi truyền thống đặc trưng bởi dòng chảy về phía trước của nguyên vật liệu và một dòng chảy ngược của thông tin. Nhìn chung các khái niệm đều quan niệm chuỗi cung ứng là một tổng thể giữa hàng loạt các nhà cung ứng và khách hàng được kết nối với nhau, trong đó mỗi khách hàng đến lượt mình lại là nhà cung ứng cho các tổ chức tiếp theo cho đến khi thành phẩm đến tay người tiêu dùng. Chuỗi này được bắt đầu từ việc khai thác các nguyên liệu nguyên thủy, và người tiêu dùng là mắt xích cuối cùng của chuỗi. Nói cách khác, chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh cung cấp một sản phẩm/ dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng.
Như vậy, không có một định nghĩa duy nhất để nói về chuỗi cung ứng, bởi vì chuỗi cung ứng có thể được thực hiện một cách khác biệt đáng kể giữa một ngành công nghiệp này với một ngành công nghiệp khác, giữa công ty này với công ty khác hay sản phẩm này với sản phẩm khác. Tóm lại, chuỗi cung ứng là hành trình của nguyên vật liệu từ khi được sinh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 ra đến khi biến đổi thành sản phẩm đến tay người tiêu dùng bằng sự kết hợp của các thành tố bao gồm: nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối, người tiêu dùng và các thành phần bổ trợ.3 Lợi ích của chuỗi cung ứng Thứ nhất, chuỗi cung ứng sẽ tạo ra giá trị cho khách hàng ở mỗi điểm tiếp xúc và như vậy sẽ đảm bảo cho công ty cũng như mạng lưới các đối tác trong chuỗi cung ứng có thể tạo ra sự khác biệt sâu sắc với đối thủ của mình. Thứ hai, mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống. Giá trị tạo ra của chuỗi cung ứng là sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực mà chuỗi cung ứng dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, chuỗi cung ứng đóng vai trò quan trọng bởi lẽ nó giải quyết cả vấn đề đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp. Lợi ích mà nó mang lại là: giảm bớt trung gian, giảm bớt sự phụ thuộc vào vị trí của khách hàng cuối cùng, giảm bớt chi phí đơn vị với đơn đặt hàng lớn (Lambert et al, 1998).4 Cấu trúc chuỗi cung ứng Jacobs and Chase (2014) cho rằng chuỗi cung ứng bao gồm toàn bộ các mắt xích trong một chuỗi bắt đầu bằng nguyên vật liệu sơ cấp và mắt xích kết thúc chính là khách hàng. Mỗi doanh nghiệp hay tổ chức trong chuỗi cung ứng được gọi là một mắt xích. Một doanh nghiệp có thể là một mắt xích của một hay nhiều chuỗi cung ứng khác nhau, chúng đan xen tạo thành mạng lưới phức tạp.
Khi dòng nguyên vật liệu đi qua mỗi mắt xích nó sẽ được thêm vào một phần giá trị gia tăng và cuối cùng sản phẩm được đưa tới khách hàng cuối cùng để tiêu thụ. Khi một tổ chức mô tả chuỗi cung ứng riêng của họ, họ thường tự xem xét mình như một doanh nghiệp trung tâm để xác định nhà cung cấp và khách hàng. Các mắt xích đứng trước mắt xích trung tâm được gọi là các nhà cung cấp của mắt xích trung tâm. Các mắt xích đứng sau mắt xích trung tâm bao gồm các nhà phân phối của mắt xích trung tâm và người tiêu dùng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản nhất bao gồm 4 mắt xích cơ bản có mối quan hệ qua lại với nhau mà bất kì chuỗi cung ứng nào cũng phải có đó là: nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối và người tiêu dùng. Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một hoặc nhiều nhà máy, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến người tiêu dùng.