Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý nguồn vốn ODA. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng quản lý và sử dụng vốn ODA tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 1993 – 2017. Chương 5: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn ODA tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Luan van 5 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ODA 2.1 Tổng quan về ODA 2.1 Khái niệm về ODA “ Năm 1967, Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (ADC) của Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đưa ra khái niệm Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là những chuyển giao hỗ trợ chính thức mà mục tiêu chính là xúc tiến sự phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển với điều kiện tài chính ưu đãi. ” Năm 1972, DAC đưa ra một định nghĩa vốn ODA đầy đủ hơn, theo định nghĩa này thì vốn ODA là dòng vốn từ bên ngoài dành cho các nước đang phát triển, được các cơ quan chính thức của Chính phủ Trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức đa phương, các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Nguồn vốn chuyển giao phải thỏa mãn: (1) Mục đích chính của nguồn vốn là hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế và phúc lợi của nước đang phát triển; (2) Yếu tố không hoàn lại trong khoản cho vay ưu đãi chiếm ít nhất 25% trong tổng vốn viện trợ. Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển được ban hành kèm theo Nghị định số 87/CP ngày 05/08/1997 của Chính phủ Việt Nam về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, thì vốn ODA được định nghĩa là sự hợp tác phát triển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế.
Hình thức cung cấp vốn ODA bao gốm vốn ODA không hoàn lại, vốn ODA cho vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại ít nhất đạt 25% giá trị khoản vay. Theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, thì Hỗ trợ phát triển kinh tế chính thức (ODA) là hoạt động hợp tác giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ đa phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ. Hình thức cung cấp vốn ODA bao gồm vốn ODA không hoàn lại, vốn ODA vay ưu đãi, vốn ODA hỗn hợp; các khoản vay ưu đãi phải đảm bảo yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25% trên tổng giá trị khoản vay đối với các khoản vay không rang buộc. Luan van 6 Theo Nghị định số 16/2006/NĐ-CP về quản lý và sử dụng Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành ngày 16 tháng 3 năm 2016 của Chính phủ có đưa ra khái niệm về ODA như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA)trong Quy định này được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ” (Chính phủ, 2016).
Tóm lại ODA có thể hiểu một cách chung nhất như sau: ODA là các khoản cho vay ưu đãi kết hợp với nguồn cho không mà quốc gia này dành cho quốc gia khác có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Tính ưu đãi của ODA thể hiện ở phần ODA cho không cộng với các ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, lịch trả nợ với phần cho vay. Quốc gia tiếp nhận nguồn hỗ trợ chính thức sẽ được hưởng ít nhất là 25% so với tổng giá trị nguồn hỗ trợ đó.2 Phân loại vốn ODA 2.1 Phân loại vốn ODA theo hình thức cấp Vốn ODA không hoàn lại Vốn ODA không hoàn lại là hình thức cung cấp vốn ODA mà nước nhận viện trợ không phải hoàn trả vốn và lãi cho bên viện trợ. Vốn ODA không hoàn lại thường được các nước đang phát triển ưu tiên cho những dự án thuộc lĩnh vực: Dân số, y tế, giáo dục đào tạo, hoặc các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển giao thông nông thôn và miền núi, bảo vệ môi trường, vốn ODA không hoàn lại thường được cấp dưới các hình thức sau: - Hỗ trợ kỹ thuật: Là sự hỗ trợ cho các nước đang phát triển thực hiện các nghiên cứu phát triển, lập nghiên cứu khả thi, đánh giá tác động môi trường, hỗ trợ ngành nghề.
Các tổ chức tài trợ thực hiện tài trợ thông qua việc thuê các chuyên gia đào tạo cho nước nhận vốn ODA. - Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: Là hình thức viện trợ cho các nước nghèo có xảy ra thiên tai, dịch bệnh. Viện trợ thực hiện dưới dạng hàng hóa thiết yếu như lương thực, thuốc chữa bệnh, vải. Luan van 7 - Đầu tư các dự án bảo vệ môi trường: Nguồn vốn ODA dùng để đầu tư vào các dự án xử lý chất thải rắn – nước thải đô thị, các khu bảo tồn thiên nhiên, xử lý chất độc sau chiến tranh, trồng rừng phòng hộ.
ODA vay ưu đãi ODA vay ưu đãi là khoản vốn vay ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ; đảm bảo yếu tố không hoàn lại của khoản vay tối thiểu phải là 25% tổng giá trị khoản vay đối với khoản vay không ràng buộc và 35% tổng giá trị khoản vay đối với khoản vay có ràng buộc. Những điều kiện ưu đãi thường áp dụng bao gồm: - Lãi suất từ 0% đến 3%/năm. - Thời gian vay nợ dài (15 năm đến 40 năm). - Thời gian ân hạn (không trả lãi hoặc hoàn trả nợ) từ 10 năm đến 12 năm để vốn vay có thời gian phát huy hiệu quả.
Vốn ODA hỗn hợp Vốn ODA hỗn hợp là khoản vốn ODA kết hợp một phần vốn không hoàn lại với một phần vốn vay có hoàn lại theo các điều kiện của OECD, những yếu tố không hoàn lại phải đạt không dưới 25% tổng giá trị của các khoản vốn đó; hoặc có thể kết hợp một phần không hoàn lại với một phần tín dụng ưu đãi và một phần Tín dụng thương mại nhưng phải đảm bảo yếu tố không không hoàn lại của khoản vay đó tối thiểu phải là 25% tổng giá trị khoản vay đối với khoản vay không ràng buộc và 35% đối với khoản vay có ràng buộc.2 Phân loại theo nguồn cấp, vốn ODA được chia thành thành hai loại Vốn ODA song phương: Vốn ODA song phương là khoản vốn tài trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ, vốn ODA song phương dựa trên mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia nên thủ tục ký kết nhanh, lĩnh vực hợp tác đa dạng và quy mô dự án rất linh hoạt. ODA đa phương: Luan van 8 ODA đa phương là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức của các định chế tài chính quốc tế như ngân hàng thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB). hoặc các tổ chức quốc tế và liên minh quốc gia như: Tổ chức Nông nghiệp và lương thực (FAO), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ môi trường toàn cầu (GLF).dành cho một nước, hoặc nguồn vốn hỗ trợ của một Chính phủ nào đó dành cho một Chính phủ khác thông qua một tổ chức đa phương trên thế giới.3 Theo loại hình hỗ trợ - Cứu trợ và viện trợ khẩn cấp: Là việc cung cấp nguồn lực cứu trợ khẩn cấp để giảm nhẹ tác động và nâng cao mức sống cho người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai hay thảm họa do con người gây ra. Hình thức hỗ trợ này chỉ tập trung vào viện trợ nhân đạo không tập trung vào hỗ trợ hợp tác phát triển.
- Hỗ trợ lương thực: Là hình thức cung cấp lương thực cho các các nước nghèo để tiêu dùng theo các Chương trình quốc gia và quốc tế với mục tiêu phát triển, bao gồm viện trợ không hoàn lại và khoản vốn hỗ trợ cho vay ưu đãi. Hỗ trợ hợp tác kỹ thuật độc lập: Là hoạt động cung cấp nguồn lực với mục tiêu chuyển giao công nghệ và năng lực quản lý, kỹ năng sản xuất và bí quyết công nghệ cho các nước đang phát triển theo các mục tiêu tăng cường năng lực tiến hành các hoạt động phát triển, không liên quan đến việc thực hiện một dự án đầu tư cụ thể nào. Hỗ trợ này bao gồm chi phí nhân sự, đào tạo và nghiên cứu, cũng như chi phí hành chính và trang thiết bị. - Hỗ trợ ngân sách/Chính sách hoặc hỗ trợ cán cân thanh toán: Hỗ trợ cho các chương trình phát triển mở rộng và theo các mục tiêu kinh tế vĩ mô với mục đích cụ thể hỗ trợ cán cân thanh toán và cung cấp dự trữ ngoại tệ cho nước tiếp nhận.
-Hỗ trợ dự án: Là hình thức hỗ trợ tài chính bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho các nước đang phát triển theo các dự án cụ thể. Viện trợ này bao gồm những dự án tăng cường hoặc nâng cao nguồn vốn vật chất của nước tiếp nhận bao gồm cả công tác hỗ trợ kỹ thuật và đóng góp nhân sự trực tiếp thực hiện dự án 2.3 Đặc điểm nguồn vốn ODA ODA là nguồn vốn hợp tác phát triển: Luan van 9 Từ khái niệm về ODA chúng ta đã thấy: ODA là hình thức hợp tác phát triển của Chính phủ các nước phát triển, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại và/hoặc các khoản cho vay với điều kiện ưu đãi. Ngoài ra, bên viện trợ thông qua các khoản cho vay ưu đãi/các khoản viện trợ không hoàn lại sẽ cung cấp cho bên được viện trợ hàng hóa, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, cung cấp dịch vụ. Ngược lại, bên được viện trợ thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển có điều kiện bổ sung nguồn vốn còn thiếu, sử dụng vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống.
tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển và nâng cao đời sống nhân dân.