CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Tổng quan về kế hoạch tiến độ. Khái niệm về kế hoạch tiến độ[10]. Để thực hiện thành công việc xây dựng công trình của dự án cần phải có một mô hình khoa học tổ chức và quản lý các hoạt động sản xuất xây dựng.
Mô hình đó chính là kế hoạch tiến độ xây dựng công trình. Kế hoạch tiến độ xây dựng công trình là kế hoạch thực hiện các hoạt động xây dựng bằng những công nghệ xây dựng, kỹ thuật xây dựng và biện pháp tổ chức thích hợp nhằm hoàn thành công trình xây dựng đảm bảo chất lượng kỹ thuật trong mức hạn phí và thời hạn đã đề ra, bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Kế hoạch tiến độ thường được lập sau khi đã xác định được phương pháp tổ chức sản xuất xây dựng và đã thiết kế dây chuyền thi công xây dựng. Thông thường kế hoạch tiến độ được thể hiện theo các dạng sơ đồ nhằm bảo đảm cho công tác quản lý tiến độ được tối ưu nhất.
Phân loại kế hoạch tiến độ. Căn cứ theo giai đoạn. Kế hoạch tổng tiến độ: kế hoạch tổng tiến độ được lập cho toàn bộ công trình kể từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình, kế hoạch tổng tiến độ là cơ sở cho các bản kế hoạch tiến độ sau đó, kế hoạch tổng tiến độ cung cấp thời gian pháp lệnh cho công trình. Kế hoạch tổng tiến độ thường được lập ở giai đoạn thiết kế sơ bộ và thiết kế kỹ thuật.
Ngoài ra còn được lập trong giai đoạn thiết kế bản vẽ thi công. Kế hoạch tiến độ chi tiết: kế hoạch tiến độ chi tiết được lập cho công trình, bộ phận công trình và hạng mục công trình. Kế hoạch tiến độ chi tiết do nhà thầu lập trong giai đoạn thi công. Căn cứ theo tính chất của đối tượng.
Kế hoạch tiến độ cung ứng vật tư, vật liệu: bản kế hoạch này được lập nhằm mục đích xác định thời gian, khối lượng, trình tự cung ứng của các loại vật liệu, vật tư thường được sử dụng tại các công trường thi công. Kế hoạch tiến độ tài chính: bản kế hoạch này tương tự như kế hoạch cung ứng vật tư, vật liệu. Kế hoạch tiến độ khảo sát địa chất thủy văn 1. Vai trò kế hoạch tiến độ.
Ngày nay, cùng với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, thì công nghệ trong xây dựng cũng có những bước phát triển rất mạnh mẽ, lần lượt các công cụ để quản lý thi công công trình ra đời nhằm đảm bảo cho công trình thi công đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng và giảm chi phí. Vì vậy việc lập kế hoạch tiến độ đòi hỏi có sự hệ thống, bài bản, khả [10] năng phân tích, nhìn nhận xa và có sự hiểu biết về các công việc xây dựng. Kế hoạch tiến độ phải được nhìn nhận như một mô hình động của dự án và không phải là cái không thể điều chỉnh. Lập kế hoạch không thể được xem xét như một hoạt động chỉ xảy ra một lần.
Lập kế hoạch và kiểm soát kế hoạch là một quá trình liên tục, hài hòa với các công tác quản lý khác. Đó là một chu trình lập kế hoạch, kiểm tra, giám sát phát hiện vấn đề để cần thiết thì lại điều chỉnh kế hoạch. Vì lý do đó kế hoạch sẽ không có ý nghĩa nếu không có các thông tin phản hồi, không có sự kiểm tra, giám sát. Theo thời gian, bất cứ kế hoạch nào cũng có thể trở nên lạc hậu và sự xem xét lại kế hoạch theo từng giai đoạn hoặc khi có thay đổi, có sự cố là cần thiết.
Vai trò lập kế hoạch tiến độ trong công tác quản lý dự án: - Là căn cứ để bảo đảm cho việc hoàn thành dự án giữa chủ đầu tư và các nhà thầu. - Xác định định lượng được thời gian hoàn thành công trình. 6 - Là cơ sở xác định nhu cầu nhân lực, vật tư, máy móc thiết bị. - Là cơ sở để lập chí phí và điều phối chi phí.
- Là căn cứ để cán bộ quản lý các đơn vị có thể thực hiện nhiệm vụ. - Dự trù được các rủi ro gặp phải trong công tác sản xuất xây dựng. - Là tài liệu quan trọng để sắp xếp việc thực hiện công việc xây dựng, biết rõ về thời gian tập kết máy móc, thiết bị vật tư qua đó có biện pháp sắp xếp khoa học tại công trường xây dựng. Nội dung kế hoạch tiến độ[10].
Kế hoạch tiến độ là kế hoạch sản xuất xây dựng được thể hiện bằng sơ đồ có gắn thời gian bao gồm các số liệu tính toán, các giải pháp được áp dụng trong xây dựng về công nghệ, thời gian, địa điểm, khối lượng các công việc xây lắp cùng với các điều kiện để thực hiện chúng. Kế hoạch tiến độ xây dựng công trình là bộ phận không thể tách rời của thiết kế tổ chức xây dựng và thiết kế tổ chức thi công. Các nội dung cơ bản của kế hoạch tiến độ là: - Kế hoạch tiến độ trong thiết kế tổ chức xây dựng: Do cơ quan tư vấn thiết kế lập bao gồm kế hoạch thực hiện các công việc thiết kế, chuẩn bị, thi công xây dựng công trình, cung cấp vật tư thiết bị lắp đặt cho công trình .vv,được gọi là tổng tiến độ. Trong bảng tổng tiến độ chỉ ra các thời điểm chủ chốt như ngày hoàn thành hạng mục, thời điểm phải cung cấp thiết bị, ngày hoàn thành công trình.
- Kế hoạch tiến độ trong thiết kế tổ chức thi công: là kế hoạch tiến độ chi tiết do nhà thầu thi công lập. Trong tiến độ thi công chi tiết thể hiện các công việc chuẩn bị mặt bằng, công tác lán trại, xây dựng tạm, xây dựng chính, thời gian đưa hạng mục hoàn thành, thời gian đưa công trình vào sử dụng, tiến độ thi công chi tiết thể hiện các khối lượng công việc từng hạng mục, từng công việc xây dựng trực tiếp trên công trường thi công. Nguyên tắc lập kế hoạch tiến độ[10]. Chọn thứ tự thi công hợp lý.
Việc chọn thứ tự thi công hợp lý là rất quan trọng, công việc nào được xác định trước sau có ảnh hưởng lớn tới tiến độ thi công công trình. Khi chọn thứ tự các công việc triển khai cần phải được chú ý tới: - Tuân thủ trình tự công nghệ thi công, biện pháp thi công đã đề ra. - Đảm bảo tính liên tục cho các tổ thợ chính. - Tùy theo từng công trình và tính chất công nghệ của nó mà người ta chọn thứ tự thi công hợp lý nhất.
Thông thường người ta thi công từ trong ra ngoài, phần kết cấu từ dưới lên, từ hệ chính sang hệ phụ, phần hoàn thiện thi công từ trên xuống, từ trong ra ngoài. Đảm bảo thời hạn thi công. Để có thể hoàn thành và đưa công trình vào sử dụng đúng thời hạn đã đặt ra thì trước hết, kế hoạch tiến độ phải đảm bảo thỏa mãn điều kiện này. Kế hoạch tiến độ càng có ít thời gian dự trữ thì khả năng điều chỉnh và đối phó với các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thi công cũng như khả năng thỏa mãn yêu cầu của chủ đầu tư về việc sớm đưa công trình vào khai thác sử dụng càng thấp.
Sử dụng nhân lực điều hòa trong sản xuất. Biểu đồ nhân lực được coi là điều hòa khi số công nhân tăng từ từ trong thời gian ban đầu, giảm dần trong khi công trường kết thúc và không tăng giảm đột biến. Nếu số công nhân sử dụng không điều hòa, nghĩa là có lúc dùng nhiều người, có lúc lại dùng ít người làm cho phụ phí tăng lên. Tập trung đông người trong thời gian ngắn gây lãng phí về cở sở vật chất và máy móc.
Đánh giá kế hoạch tiến độ thể hiện bằng sơ đồ đường thẳng[4]: - Hệ số ổn định nhân lực : K1 =Sd/ S (1-1) 8 Trong đó: Sd : Thời gian mà nhân lực vượt quá mức trung bình. S: Thời gian kế hoạch. - Lượng công nhân trên công trường nhiều hay ít : K2 = Nmax/ Ntb(1-2) Trong đó: Nmax : Số người trong ngày cao nhất. Ntb : Số người trung bình trong ngày.
Qua hệ số ổn định K2 ta thấy khi biểu đồ nhân lực có những biến động bất thường, phải tuân theo quy tắc không được nhô cao ngắn hạn và trũng sâu dài hạn. - Năng suất lao động: Wtb = Gdt / (TxNtb) (1-3) Trong đó : Wtb :Năng suất bình quân tính bằng tiền trên một ngày công. Gdt : Giá thành dự toán công trình. Nếu Wtb càng cao thì càng tốt, chứng tỏ thời gian thi công hoặc sử dụng nhân lực trung bình ít.
Đưa tiền vốn vào công trình một cách hợp lý. Vốn đầu tư là lượng tiền bỏ vào công trình. Đây là loại tài nguyên sử dụng một lần và nó chỉ sinh lời khi công trình hoạt động. Khi công trình chưa hoạt động thì tiền vốn bỏ vào công trình là tiền vốn bị ứ đọng.
Kế hoạch tiến độ xây dựng quyết định tiến độ cung cấp vốn. Nếu nhà thầu phải ứng vốn của mình ra để xây dựng thì chí phí vốn là do nhà thầu phải chịu, chừng nào nhà thầu còn chưa được thanh toán vốn hoặc tạm ứng thì chừng đó nhà thầu còn phải chịu chí phí vốn. Nếu chủ đầu tư bỏ vốn ra thi chủ đầu tư chịu chí phí về ứ đọng vốn. Tiến độ vốn vào công trình có 3 dạng : đều đặn, tăng dần và giảm dần.
Tiến độ cấp vốn theo thời gian 1. Nguyên tắc quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình[13]. Tuân thủ quy hoạch, kiến trúc, bảo vệ mội trường, phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm văn hóa xã hội. Quy hoạch xây dựng là cơ sở để triển khai các hoạt động xây dựng, kiểm soát quá trình phát triển đô thị và các khu chức năng, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong hoạt động xây dựng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường.
Các yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan môi trường nhằm định hướng việc xây dựng có trọng tâm, trọng điểm, tạo lập sự cân bằng giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, đảm bảo sự hài hòa trong việc tổ chức không gian và sự đồng bộ việc kết nối các công trình hạ tầng kỹ thuật. Hoạt động xây dựng cũng đòi hỏi phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm văn hóa, xã hôi từng vùng nhằm 10 khai thác hài hòa các nguồn lực, tạo cơ sở phát triển bền vững kinh tế - xã hôi của vùng miền.