CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN S CH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHOẢN THU TỪ CỔ TỨC VÀ LỢI NHUẬN CÒN LẠI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. NH NG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CỔ TỨC VÀ L I NHU N CÒN LẠI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhà nƣớc 1. Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước Doanh nghiệp hà nước là một “bộ phận” của doanh nghiệp nói chung được hình thành và phát triển trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới.
hưng tiêu thức cụ thể để phân loại và nhận biết về DNNN ở nhiều nước trên thế giới còn rất khác nhau. Mỗi quốc gia trong khái niệm về DNNN có thể nhấn mạnh tiêu chí này hoặc tiêu chí khác và sự tồn tại và phát triển của để nhằm mục tiêu nhất định do quốc gia đó đề ra: * Tại Nga, sự tồn tại của DNNN nhằm đáp ứng hai mục tiêu cơ bản là đảm bảo an ninh và thực thi các nhiệm vụ chiến lược của quốc gia; huy động các nguồn lực của nhà nước và xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. DNNN ở Nga tồn tại dưới 3 hình thức: Công ty cổ phần có vốn góp đa số của hà nước (chủ yếu là các Tập đoàn lớn nhằm điều tiết thị trường); các doanh nghiệp đơn nhất trực thuộc chính quyền liên bang, khu vực hay địa phương (cung cấp dịch vụ công, tạo nguồn thu cho ngân sách); Các DNNN do hà nước sở hữu 100% vốn hoạt động trong các lĩnh vực quan trọng như quốc phòng, năng lượng, hạt nhân…. * Tại Singapore, việc thành lập DNNN lấy nguyên tắc quản trị hiệu quả là ưu tiên số một.
Chính phủ ingapore đã đặt các mục tiêu kinh tế lên hàng đầu và tự mình đảm nhiệm và gánh vác chức năng này. Từ những năm 70 của 5 thế kỷ trước cho đến nay, 60% nền kinh tế ingapore được tạo nên và kiểm soát bởi các , được thành lập và hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. ặc thù quan trọng nhất của DNNN ở Singapore là chỉ hoạt động thông qua đầu tư mà không tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh trực tiếp. * ối với Uỷ ban Châu Âu, DNNN là tất cả các doanh nghiệp mà nhà cầm quyền có thể dựa vào quyền sở hữu, quyền khống chế cổ phần hoặc có các điều lệ quản lý đối với doanh nghiệp để gây ảnh hưởng có tính chất chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với doanh nghiệp.
* Tại Pháp, xác định dựa trên tính công hữu của quyền sở hữu, nhờ đó chính phủ xác lập được địa vị lãnh đạo của Nhà nước đối với doanh nghiệp; ó địa vị pháp nhân độc lập; thực hiện các hoạt động công thương độc lập, là tổ chức kinh tế có hoạch toán lỗ lãi chứ không phải là đơn vị hành chính sự nghiệp của chính phủ. * Thụy iển, Phần Lan, Brazil,… đều xác định DNNN là các doanh nghiệp, trong đó nhà nước chiếm trên 50% vốn là DNNN. * Ở Việt Nam, DNNN có một quá trình hình thành và phát triển trên 50 năm và trải qua nhiều thời kỳ đổi mới, ở mỗi thời kỳ nhận thức về các DNNN cũng khác nhau. iều này được thể hiện rõ qua hai thời kỳ: thời kỳ trước đổi mới (trước ại hội lần thứ VI) và từ năm 1986 cho đến nay.
Trước thời kỳ đổi mới, DNNN có vị trí quan trọng trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, được nhìn nhận như Cơ quan hính phủ hơn là tổ chức kinh doanh. Mục tiêu của DNNN là cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng, giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận. Từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN thì quan niệm về cũng có nhiều sự 6 thay đổi. Trong điều kiện sản xuất hàng hóa với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, đan xen, trong xu thế hội nhập quốc tế thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài, DNNN là một yêu cầu hết sức cần thiết để có cơ chế quản lý thích hợp.
Tùy theo góc độ xem xét mà được phân chia thành các loại khác nhau phục vụ mục tiêu của nhà nước. Hiện nay được phân chia thành hai loại như sau: Thứ nhất, DNNN hoạt động kinh doanh, là doanh nghiệp có chức năng hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận theo cơ chế thị trường. Các doanh nghiệp này được hà nước giao quyền và sử dụng vốn có trách nhiệm, bảo toàn và phát triển vốn. Các doanh nghiệp tự thực hiện hạch toán kinh doanh, tự chủ trong kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về mặt tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của mình, chịu sự điều chỉnh của pháp luật như các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác.
Thứ hai, DNNN hoạt động công ích, là doanh nghiệp hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ công cộng theo chính sách của nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Ngoài ra loại hình DNNN này còn tổ chức hoạt động kinh doanh bổ sung nhưng không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính. ồng thời cũng phải chấp hành và chịu sự điều chỉnh của pháp luật như các doanh nghiệp khác, với loại hình doanh nghiệp này thì Nhà nước ưu tiên đầu tư vốn và miễn thuế. Theo Khoản 22 iều 4 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 quy định doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó hà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
Theo Khoản 8 iều 4 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH12 ngày 26/11/2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015 quy định doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó hà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. o đó, trong phạm vi của bài luận văn, tác giả đi nghiên cứu khoản thu 7 cổ tức và lợi nhuận còn lại của các doanh nghiệp nhà nước theo khái niệm doanh nghiệp nhà nước tại Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11. Đặc điểm doanh nghiệp Nhà nước Ngoài những điểm vốn có của một doanh nghiệp, DNNN có các đặc điểm đặc trưng sau: hứ nhất D là tổ chức kinh tế do hà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập, hà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối. Doanh nghiệp hà nước do cơ quan hà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập doanh nghiệp là cần thiết.
Việc thành lập DNNN dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh vực then chốt, xương sống của nền kinh tế dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm đó và chủ trương của ảng và ngành nghề lĩnh vực đó. Doanh nghiệp hà nước do hà nước đầu từ vốn nên nó thuộc sở hữu hà nước, tài sản của DNNN là một bộ phận của tài sản hà nước. DNNN sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của hà nước. Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước hà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà hà nước giao.
hứ h i DNNN do hà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế xã hội do hà nước giao. hà nước quản lý doanh nghiệp hà nước thông qua cơ quan quản lý hà nước có thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ. Bao gồm những nội dung sau: 8 hà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại DNNN phù hợp với quy mô của nó. Những quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong như hội đồng quản trị, Tổng giám đốc.
Những quy định thẩm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức vụ quan trọng của doanh nghiệp như chủ tịch Hội đồng quản trị. Hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối của nhà nước về mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. Nếu hà nước giao cho DNNN nào thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp hà nước đó phải kinh doanh có hiệu quả, nào được giao thực hiện hoạt động công ích thì đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội. hứ về tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lý.
Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân Trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, chúng ta thấy vai trò của được nhấn mạnh ở khía cạnh kinh tế chính trị, vì mục tiêu xây dựng quan hệ sở hữu toàn dân trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân hơn là khía cạnh kinh tế vì mục tiêu tăng trưởng. Hiện nay trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, các DNNN là một bộ phận hết sức quan trọng, vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần. DNNN góp phần thực hiện vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước trên các mặt sau: Một là, D đóng v i trò là một công cụ kinh tế, một lực lượng vật 9 chất trong t y nhà nước để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo các chương trình kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển DNNN của các nền kinh tế trên thế giới cho thấy sự tồn tại của DNNN tùy thuộc vào sự quy định của chiến lược và chính sách phát triển, cách thức lựa chọn giải pháp, công cụ mỗi nước.
hư vậy, vai trò tăng hay giảm tùy thuộc vào chính sách, chiến lược phát triển trong những giai đoạn nhất định và còn tùy thuộc vào sự lựa chọn phương thức trực tiếp hay gián tiếp để điều tiết thúc đẩy nền kinh tế. Với nền kinh tế chậm phát triển, mức độ, tập trung sản xuất rất thấp, hệ thống kinh doanh nhỏ, phân tán, ít vốn, công nghệ lạc hậu. Muốn bước khỏi trình trạng trên và hội nhập vào trào lưu phát triển hiện đại cần phải lựa chọn chiến lược và những giải pháp cho sự tăng trưởng mang tính chất tăng tốc và lâu bền.