CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THI CÔNG VÀ QUẢN LÝ CHI PHÍ THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Khái quát chung về tình hình xây dựng nước ta Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua hàng ngàn năm, trong mỗi thời kỳ tồn tại của con người luôn gắn liền với các công trình kiến trúc xây dựng để chứng tỏ nền văn minh của thời kỳ đó. Do vậy nhu cầu về xây dựng là nhu cầu thường xuyên và ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội của một quốc gia và đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đối với Việt Nam, ngành xây dựng đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
Ngành xây dựng còn là tiền đề cho các ngành khác phát triển. Trong nền kinh tế hội nhập với thế giới hiện nay của nước ta, nước ta đang thu hút một lượng vốn FDI rất lớn từ nước ngoài đầu tư vào các dự án lớn của Việt Nam như: đường xây dựng, điện, nước, giáo dục và tất cả các dự án đó đều có sự góp mặt của doanh nghiệp xây dựng. Điều đó càng khẳng định vai trò, vị trí của doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế quốc dân. Nó là chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của khủng hoảng nền kinh tế thế giới cũng như sự phục hồi chậm của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam cũng rơi vào tình trạng khủng hoảng. Nhà nước ta đã sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, kiểm soát lạm phát, cắt giảm vốn đầu tư cho công trình xây dựng cơ bản. gây ra rất nhiều khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng. Một số công trình do không có vốn hoặc thiếu nguồn vốn đầu tư cũng như là đầu tư không hiệu quả dẫn đến việc tạm ngừng thi công, dẫn đến các doanh nghiệp thi công xây dựng công trình bị chậm thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành, gây tồn đọng lớn giá trị xây dựng dở dang, phát sinh thêm nhiều khoản chi phí.
Trong bối cảnh khó khăn hiện nay các doanh nghiệp bằng nhiều hình thức khác nhau để đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. 4 Bên cạnh có những doanh nghiệp đứng vững trên thương trường nhưng cũng có rất nhiều doanh nghiệp xây dựng phá sản không tồn tại cũng như cạnh tranh được về giá thành sản phẩm, giữ được người tài. Tổng quan về thi công xây dựng công trình 1. Công trình xây dựng Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, xây dựng, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác. Phân loại công trình xây dựng • Công trình dân dụng gồm: - Nhà ở gồm nhà chung cư và nhà riêng lẻ; - Công trình công cộng gồm: công trình văn hóa; công trình giáo dục; công trình y tế; công trình thương nghiệp, dịch vụ; nhà làm việc; khách sạn, nhà khách; nhà phục vụ xây dựng; nhà phục vụ thông tin liên lạc, tháp thu phát sóng phát thanh, phát sóng truyền hình; nhà ga, bến xe; công trình thể thao các loại. • Công trình công nghiệp gồm: Công trình khai thác than, khai thác quặng; công trình khai thác dầu, khí; công trình hoá chất, hóa dầu; công trình kho xăng, dầu, khí hoá lỏng và tuyến ống phân phối khí, dầu; công trình luyện kim; công trình cơ khí, chế tạo; công trình công nghiệp điện tử – tin học; công trình năng lượng; công trình công nghiệp nhẹ; công trình công nghiệp thực phẩm; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng; công trình sản xuất và kho chứa vật liệu nổ công nghiệp. • Công trình xây dựng giao thông gồm: Công trình đường bộ; công trình đường sắt; công trình đường thủy; cầu; hầm; sân bay.
• Công trình thủy lợi gồm: Hồ chứa nước; đập; cống; trạm bơm; giếng; đường ống dẫn nước; kênh; công trình trên kênh và bờ bao các loại. 5 • Công trình hạ tầng kỹ thuật gồm: Công trình cấp nước, thoát nước; nhà máy xử lý nước thải; công trình xử lý chất thải: bãi chứa, bãi chôn lấp rác; nhà máy xử lý rác thải; công trình chiếu sáng đô thị. Đặc điểm chung của công trình xây dựng Xây dựng là một ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm năng kinh tế và quốc phòng của đất nước.
So với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng có những đặc điểm đặc trưng xuất phát từ đặc thù của sản phẩm xây dựng và sản xuất xây dựng. Chúng có ảnh hưởng lớn đến tổ chức sản xuất và quản lý tài chính trong ngành xây dựng. Sản phẩm xây dựng có tính chất cố định: sản phẩm xây dựng sau khi hoàn thành không thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, mà nơi sản xuất đồng thời là nơi sử dụng công trình này. Do các điều kiện địa chất, thuỷ văn, cơ sở hạ tầng ở nơi xây dựng công trình được lựa chọn có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng và khai thác công trình.
Vì thế trong quản lý kinh tế xây dựng phải nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, điều tra, khảo sát để lựa chọn địa bàn xây dựng. Sản phẩm xây dựng là cố định nên lực lượng sản xuất ngành xây dựng thường xuyên phải di chuyển từ công trình này sang công trình khác, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định của người lao động, chi phí cho khâu di chuyển đòi hỏi phải đặc biệt chú ý trong công tác quản lý. Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài: sản phẩm xây dựng cơ bản thường tồn tại và hoạt động nhiều năm và có thể tồn tại vĩnh viễn. Đặc điểm này đòi hỏi đặc biệt chú ý trong khâu quản lý chất lượng sản phẩm trong tất cả các giai đoạn từ điều tra khảo sát, thiết kế cho đến thi công, nghiệm thu và bàn giao sản phẩm.
Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp: quy mô sản phẩm xây dựng được thể hiện về mặt hiện vật là hình khối vật chất lớn, về mặt giá trị là vốn lớn và nhiều. Kết cấu sản phẩm phức tạp, một công trình gồm các hạng mục, một hạng mục gồm nhiều đơn vị công trình, một đơn vị công trình gồm nhiều bộ phận và các bộ phận lại có yêu cầu kỹ thuật khác nhau. 6 Điều này đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn, vật tư, lao động máy móc nhiều và đòi hỏi nhiều giải pháp thi công khác nhau. Do vậy trong quản lý xây dựng phải chú trọng kế hoạch khối lượng, kế hoạch vốn đầu tư, lập định mức kỹ thuật và quản lý.
Thời gian xây dựng công trình dài dẫn đến vốn đầu tư xây dựng của Chủ đầu tư và vốn sản xuất của tổ chức sản xuất bị ứ đọng lâu. Thời tiết, thời gian xây dựng lâu, biến động giá cả thị trường,.gây ra các rủi ro lớn cho các tổ chức xây dựng. Công trình xây dựng dễ bị hao mòn ngay cả khi hoàn thành, nếu thời gian thiết kế và thi công kéo dài thì gây ra tổn thất rất lớn cho Chủ đầu tư do vậy các bên liên quan phải chú trọng về mặt thời gian, lựa chọn phương án, tiến độ thi công phù hợp cho từng hạng mục công trình và toàn bộ công trình, linh hoạt trong phương thức thanh toán. Sản phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc không bao giờ có hai công trình giống nhau và được sản xuất theo đơn đặt hàng, sau khi hoàn thành sẽ được tiêu thụ ngay theo giá cả đã thoả thuận giữa các bên với nhau.
Điều này dẫn đến năng suất lao động không cao, gây khó khăn cho việc so sánh giá thành. Hoạt động xây dựng chủ yếu ngoài trời nên chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên, thường xuyên gây gián đoạn quá trình thi công, ảnh hưởng đến sản phẩm dở dang, vật tư, thiết bị. Đặc điểm này yêu cầu doanh nghiệp xây dựng phải lập tiến độ thi công, tổ chức lao động hợp lý để tránh thời tiết xấu, giảm thiểu tổn thất do thời tiết gây ra, tổ chức cải thiện đời sống của người lao động. Qua những đặc điểm trên của ngành xây dựng cũng như sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý chi phí và giá thành sản phẩm xây dựng, đòi hỏi doanh nghiệp xây dựng phải có biện pháp, kế hoạch chi phí và giá thành sản phẩm hiệu quả không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.
Các hoạt động trong quá trình thi công xây dựng công trình Các hoạt động trong quá trình thi công xây dựng công trình của Nhà thầu bao gồm – theo tài liệu giáo trình "Quản lý dự án xây dựng nâng cao" của PGS-TS Nguyễn Bá Uân [13]: - Xây dựng chương trình cụ thể phù hợp với tiến trình công việc đã nêu trong hồ sơ dự thầu và các điều kiện của hợp đồng ghi rõ thời gian cụ thể của từng công việc phải hoàn thành. 7 - Lên kế hoạch và sắp xếp tổ chức ở trên công trường cũng như lắp đặt các phương tiện thiết bị cần thiết cho việc thi công và các dịch vụ cho chủ đầu tư, tổng công trình sư và các nhà thầu. - Lên kế hoạch tiến độ về nhu cầu loại số lượng các nguồn lực cần thiết (con người, máy móc, vật liệu) trong thời gian thi công công trình. - Xây dựng những công trình tạm thời và vĩnh cửu cần thiết cho việc xây dựng dự án.
- Nhà thầu phối hợp với các nhà thầu phụ tham gia xây dựng công trình. - Tiến hành giám sát xây dựng để đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của tiêu chuẩn mà thiết kế đã lựa chọn. Theo chức năng của mình các chủ thể có phương thức giám sát khác nhau. - Điều chỉnh những sai số xảy ra khi thi công ở trên công trường có thể khác với những con số đã được ghi dự toán trong hồ sơ hợp đồng.
- Giữ lại tất cả các hồ sơ và báo cáo về mọi hoạt động xây dựng và kết quả của các cuộc kiểm tra chất lượng. - Kiểm tra thanh toán tiền cho những phần việc đã hoàn thành.