Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư xây dựng công trình Chương 2: Đánh giá công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình “Trung Tâm Giao Dịch Thương Mại Quốc Tế Fosco” Chương 3: Giải pháp nâng cao công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình “Trung Tâm Giao Dịch Thương Mại Quốc Tế Fosco” Huỳnh Minh Hoàng Nhiệm – Lớp cao học kinh tế xây dựng K19 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 Đầu tƣ và vốn đầu tƣ xây dựng công trình 1.1 Khái niệm đầu tƣ Cho đến nay, có nhiều khái niệm về đầu tư, tuỳ thuộc vào quan điểm và mục đích nghiên cứu. Theo quan điểm kinh tế: Đầu tư là sự bỏ ra một lượng vốn để tạo ra một tài sản dưới một hình thức nào đó (có thể là hình thức vật chất cụ thể như nhà cửa, máy móc thiết bị hoặc là hình thức tài chính như mua cổ phần, cho vay,…) nhằm khai thác và sử dụng nó để tài sản này có khả năng sinh lời hay thoả mãn một nhu cầu nhất định nào đó của người bỏ vốn trong một khoảng thời gian nhất định trong tương lai. Nói cách khác theo quan điểm này thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn để tạo ra một tài sản để tài sản này có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất nối tiếp nhau để đạt được mục đích của người bỏ vốn. Theo quan điểm tài chính: Đầu tư là làm bất động một số vốn để sau đó rút ra với một khoản tiền lãi ở thời kỳ tiếp theo.
Nói một cách chi tiết hơn, đó là một chuỗi hành động chi tiền của chủ đầu tư, từ đó, chủ đầu tư sẽ nhận được một chuỗi tiền tệ để đảm bảo hoàn trả vốn và trang trải mọi chi phí có liên quan và có lãi. Theo quan điểm kế toán: Đầu tư là gắn liền với một số khoản chi vào động sản hoặc bất động sản để tạo nên các khoản thu lớn hơn. Như vậy dù theo quan điểm nào đi nữa thì chúng cũng có những cái chung, đó là: Đầu tư là hoạt động sử dụng vốn và tài nguyên để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Mục đích của việc đầu tƣ Đầu tư vào các hoạt động kinh tế luôn được biểu hiện dưới những mục đích kinh tế xã hội cụ thể.
Xác định cụ thể mục đích là nhân tố đảm bảo cho hoạt động đầu tư có hiệu quả. Tuy nhiên, ở mỗi khía cạnh khác nhau thì quan điểm về hiệu quả là không giống nhau. Đối với doanh nghiệp thì hiệu quả kinh tế là tối đa hóa Huỳnh Minh Hoàng Nhiệm – Lớp cao học kinh tế xây dựng K19 lợi nhuận còn đối với Nhà nước lại muốn hiệu quả kinh tế phải gắn với hiệu quả xã hội. Mục đích đầu tư của Nhà nước: Đảm bảo phúc lợi công cộng dài hạn Đảm bảo sự phát triển về kỹ thuật, kinh tế chung và dài hạn của đất nước.
Đảm bảo các yêu cầu bảo vệ môi trường, tài nguyên của đất nước. Đảm bảo an ninh quốc phòng. Đầu tư vào các lĩnh vực mà doanh nghiệp riêng lẻ, tư nhân không thể đầu tư do nhu cầu vốn quá lớn, độ rủi ro cao, mà các lĩnh vực này lại rất cần thiết đối với sự phát triển chung của đất nước và hết sức cần thiết đối với đời sống con người. Nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần và các lợi ích công cộng như: phát triển giáo dục, tạo việc làm, phân phối thu nhập.
Tóm lại mục đích chính của Nhà nước là tăng trưởng kinh tế và cải thiện, phân phối thu nhập quốc dân (mục đích công bằng xã hội). Mục đích đầu tư của Doanh nghiệp Cực tiểu chi phí và cực đại lợi nhuận. Cực đại khối lượng hàng hóa bán ra thị trường. Cực đại giá trị tài sản của các cổ đông tính theo giá thị trường.
Đạt mức độ nhất định về hiệu quả tài chính của dự án. Duy trì sự tồn tại cua doanh nghiêp trong cạnh tranh. Nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm để chiếm lĩnh thị trường. Đầu tư theo chiều sâu, đổi mới công nghệ.
Đầu tư để cải thiện điều kiện lao động của doanh nghiệp.2 Phân loại đầu tƣ Đầu tư có nhiều loại, để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả của các hoạt động đầu tư, có thể phân loại chúng theo một số tiêu thức sau: Huỳnh Minh Hoàng Nhiệm – Lớp cao học kinh tế xây dựng K19 a. Phân theo đối tượng đầu tư : Đầu tư cho các đối tượng vật chất để khai thác cho sản xuất và cho các lĩnh vực hoạt động khác. Đầu tư cho tài chính: mua cổ phiếu, cho vay. Phân theo chủ đầu tư: Chủ đầu tư là nhà nước: đầu tư cho các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội do vốn của nhà nước.
Chủ đầu tư là các doanh nghiệp (các doanh nghiệp nhà nước, ngoài nhà nước, độc lập và liên doanh, trong nước và ngoài nước). Chủ đầu tư là các cá thể riêng lẽ. Phân theo nguồn vốn: Vốn từ ngân sách nhà nước Vốn tín dụng ưu đãi, từ ngân sách nhà nước Vốn hỗ trợ và phát triễn chính thức (ODA) Vốn tín dụng thương mại Vốn tự huy động từ các doanh nghiệp nhà nước Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài của các doanh nghiệp nhà nước Vốn đóng góp của nhân dân vào các công trình phúc lợi công cộng Vốn của các tổ chức ngoài quốc doanh và của nhân dân Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài d. Phân theo cơ cấu đầu tư: Đầu tư theo các ngành kinh tế Đầu tư theo các vùng lãnh thổ Đầu tư theo các thành phần kinh tế e.
Phân theo góc độ tái sản xuất tài sản cố định: Đầu tư mới: xây dựng, mua sắm tài sản cố định loại mới. Đầu tư lại: thay thế, cải tạo tài sản cố định hiện có. Huỳnh Minh Hoàng Nhiệm – Lớp cao học kinh tế xây dựng K19 f. Phân theo góc độ trình độ kỹ thuật: Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu Đầu tư theo tỷ trọng vốn đầu tư cho các thành phần mua sắm thiết bị, xây lắp và chi phí đầu tư khác.
Phân theo thời đoạn kế hoạch: Đầu tư ngắn hạn Đầu tư trung hạn Đầu tư dài hạn h. Phân theo tính chất và quy mô dự án: Các dự án xây dựng giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ. Tổng mức vốn đầu tƣ Loại dự án Các dự án kể trên + Trên 600 tỷ đồng Nhóm A + Từ 30-600 tỷ đồng Nhóm B + Dưới 30 tỷ đồng Nhóm C Các dự án thuộc phạm vi bảo vệ an ninh quốc phòng có tính chất bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị-xã hội quan trọng, thành lập và xây dựng hạ tầng khu công nghiệp mới: thuộc dự án nhóm A (không kể mức vốn là bao nhiêu).3 Các hình thức đầu tƣ 1.1 Đầu tƣ trực tiếp Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý quá trình sử dụng vốn đầu tư. Trong hình thức đầu tư này thì người bỏ vốn và người quản lý quá trình sử dụng vốn là một chủ thể.Chủ thể này hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư của mình tức theo nguyên tắc “lời ăn lỗ chịu”.
Đầu tư trực tiếp gồm 2 nhóm: đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển. Đầu tư dịch chuyển : Đầu tư dịch chuyển : có nghĩa là sự chuyển dịch vốn đầu tư từ người này sang người khác theo cơ chế thị trường của tài sản được dịch chuyển. Hay chính là việc Huỳnh Minh Hoàng Nhiệm – Lớp cao học kinh tế xây dựng K19 mua lại cổ phần của một doanh nghiệp, xí nghiệp, công ty nào đó. Việc chuyển dịch này không làm ảnh hưởng đến vốn của doanh nghiệp, nhưng có khả năng tạo ra năng lực quản lý, sản xuất mới.
Việc tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay là một hình thức đầu tư chuyển dịch. Đầu tư phát triển : Đầu tư phát triển : là đầu tư trực tiếp nhằm tăng thêm giá trị tài sản, tạo ra năng lực mới hoặc cải tạo, mở rộng, nâng cấp năng lực hiện có vì mục tiêu phát triển, có tác dụng quan trọng trong viêc tái XS mở rộng. Nếu xét theo cơ cấu ngành thì đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư phát triển công nghiệp; đầu tư phát triển nông – lâm –ngư nghiệp; đầu tư phát triển dịch vụ; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Nếu xét theo mức độ và tính chất của đầu tư thì đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư mới; đầu tư mở rộng; đầu tư theo chiều sâu 1.2 Đầu tƣ gián tiếp Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà người bổ vốn không trực tiếp tham gia quản lý quá trình sử dụng vốn đầu tư, đầu tư gián tiếp còn gọi là đầu tư tài chính. Trong hình thức đầu tư này người bỏ vốn và người quản lý sử dụng vốn không phải là một chủ thể.
Vì thế chỉ có nhà quản trị và sử dụng vốn là pháp nhân chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư còn người bỏ vốn hưởng lợi tức từ vốn góp của mình. Đầu tư gián tiếp là một loại hình khá phổ biến hiện nay do chủ đầu tư không có điều kiện và khả năng tham gia đầu tư trực tiếp nên họ chọn hình thức này. Mặt khác hình thức này thường ít rủi ro.4 Trình tự đầu tƣ và xây dựng Quá trình đầu tư là quá trình bỏ vốn cùng các tài nguyên, lao động và vật chất khác để tạo nên tài sản cố định với hiệu quả kinh tế cao nhất. Đó là tổng thể các hoạt động để vật chất hoá vốn đầu tư thành tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân.
Từ quan điểm hệ thống mà xét thì quá trình đầu tư được coi là một hệ thống phức tạp có đầu vào và đầu ra. Nội dung của sự vận động và phát triễn của hệ Huỳnh Minh Hoàng Nhiệm – Lớp cao học kinh tế xây dựng K19 thống này được thực hiện qua giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng.