Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu về quản lý bảo vệ rừng trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên thế giới Nghiên cứu về quản lý bảo vệ rừng trên thế giới đã có nhiều tác giả đề cập, nhất là trong thời gian hiện nay, do sự thay đổi khí hậu toàn cầu, nóng lên của trái đất, thiên tai hạn hán, lũ lụt tăng nhanh và sự xâm hại của con người đã làm diện tích rừng bị suy giảm về cả số lượng và chất lượng, cụ thể như: Theo Dember, Stephen A (2000), cho biết: Vào những năm cuối thế kỷ 20, con người mới chỉ có thể nhận thức được rừng vai trò quan trọng của tài nguyên rừng thì rừng đã bị suy thoái nghiệm trọng, đặc biệt là rừng nhiệt đới. Nếu theo đà mất rừng mỗi năm khoảng 15 triệu ha như số liệu thống kê của FAO thì chỉ hơn 100 năm nữa rừng nhiệt đới hoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ chịu những thảm hoạ khôn lường về kinh tế, xã hội và môi trường.
Rwedp, (1994), tổng kết rằng: trước đây trên thế giới có 17,6 tỷ ha rừng, trong đó có diện tích rừng nguyên sinh là 8,08 tỷ ha. Nhưng dưới tác động của con người đã làm cho diện tích rừng thế giới bị suy giảm nhanh chóng. Theo số liệu thống kê của tổ chức FAO đầu thế kỉ XX diện tích rừng trên thế giới chỉ còn 6 tỷ ha, đến năm 1991 con số này giảm xuống còn 3,717 tỷ ha trên toàn thế giới. Trong đó 1,867 tỷ ha ở Bắc Cực và Địa Trung Hải ổn định và phát triển chút ít, còn 1,850 tỷ ha nhiệt đới.
tính đến năm 1995 diện tích rừng trên toàn thế giới chỉ còn 2,3 tỷ ha. Tính trung bình mỗi năm diện tích rừng nhiệt đới bị thu hep khoảng 11 triệu ha. Theo các số liệu thống kê gần đây nhất của các nhà nghiên cứu, trong giai đoạn năm 2000-2012. khoảng 2,3 triệu km2 rừng được phủ xanh.
Trung bình mỗi năm, diện tích rừng nhiệt đới bị mất trên toàn cầu tăng khoảng 2100km2. Tốc độ thay đổi mật độ rừng ở các khu rừng phía đông nam nước Mỹ cao gấp 4 lần so với các khi rừng Nam Mỹ, với hơn 31% diện tích rừng bị mất hoặc tái sinh. Paraguay (Nam Mỹ), Malaysia và Campuchia (Đông Nam Á) là các quốc gia có tỉ lệ mất rừng cao nhất thế giới. Trong khi đó diện tích rừng trồng chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất đi, đó là chưa kể đến việc mất tính đa dạng sinh học.
4 Riêng ở Châu Á Thái Bình Dương thời gian từ năm 1976 đến năm 1980 mất 9 triệu ha rừng, cùng thời gian này ở châu phi mất 37 triệu ha rừng và châu Mỹ mất đi 18,4 trệu ha. Từ năm 1981 đến năm 1991 tỉ lệ rừng bị mất đi tăng lên 80% so với 10 năm trước. Với tốc độ đó một số chuyên gia lâm nghiệp dự đoán chỉ trong vòng một thế kỉ nữa rừng nhiệt đới sẽ bị hủy diệt. Ngoài ra mất rừng làm cho diện tích đất rừng tự nhiên và đất rừng trồng bị xói mòn làm biến chất, do tình trạng chặt phá rừng, sa mạc hóa.hàng năm trên thế giới làm mất đi khoảng 2 tỷ tấn đất, với số lượng này có thể sản xuất hơn 50 tấn lương thực thực phẩm.
Theo ước tính cả ngân hàng thế giới, có hơn 1,6 tỷ người sống phụ thuộc vào rừng và rừng là nguồn cung cấp nhiều việc làm góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trong khu vực. Qua thống kê cho thấy 30% diện tích rừng được sử dụng để sản xuất gỗ và các sản phẩm phi gỗ, thương mại lâm sản ước tính đạt 327 tỷ USD/năm. Sự biến mất hoặc tái sinh các khu rừng có ảnh hưởng nhất định đến hệ sinh thái cũng như sự thay đổi của khí hậu toàn cầu và gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với con người. Tài nguyên rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sống của hầu hết người dân vùng núi.
Ở đây, rừng mang lại cho họ nhiều loại sản phẩm khác nhau như: gỗ, củi, lương thực, thực phẩm, dược liệu,. Quan trọng hơn nữa là rừng đảm bảo những điều kiện sinh thái cần thiết để duy trì các hoạt động sản xuất và đời sống của người dân. Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng như: Các nhà lâm học Đức (G.Hartig, 1840; Heyer - 1883; Hundeshagen,1926) đã đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đều tuổi; Các nhà lâm học Pháp (Gournand,1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley,1922) đã đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi, vv. Dember, Stephen A (2000), cho biết: Vào cuối thế kỷ 20, khi tài nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng thì con người mới nhận thức được rằng tài nguyên rừng là có hạn và đang bị suy giảm nhanh chóng, nhất là tài nguyên rừng nhiệt đới.
Nếu theo đà mất rừng mỗi năm khoảng 15 triệu ha như số liệu thống kê của FAO thì chỉ hơn 100 năm nữa rừng nhiệt đới hoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ chịu những thảm hoạ khôn lường về kinh tế, xã hội và môi trường. 5 Sargent, Caroline et al. Theo Dember, Stephen A (2000), cần nỗ lực và tăng độ che phủ của rừng và năng suất bằng các phương pháp sinh thái, kinh tế và xã hội chấp nhận được, khai hoang, trồng rừng và trồng rừng trên các vùng đất nông nghiệp bị bỏ hoang và vùng đất bị suy thoái và không có cây. Trong thế kỷ XX, thế giới đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng công nghiệp, dân số tăng… đã làm cho diện tích rừng ngày càng giảm nhanh.
+ Theo thống kê của FAO (1999), những năm cuối của thế kỷ XX, tình trạng phá hủy rừng đã diễn ra liên tục, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, các nước thuộc vùng nhiệt đới, chỉ riêng ở Châu Phi và Châu Á mỗi năm mất khoảng từ 3 đến 3,6 triệu ha rừng, vào khoảng 0,6 đến 0,7%, trong khi đó thì toàn thế giới mất khoảng 3%. + Theo FAO thì khoảng 50% rừng nhiệt đới bị phá hủy từ năm 1950, nhiều nhất là ở Trung Mỹ (66%), tiếp theo là Trung Phi (52%), Nam Phi là 37% và Đông Nam Á là 38%. Rừng trên thế giới đã giảm đi 70 triệu ha (gần 2%) trong khoảng 1980 đến 1990. Vào những năm đầu thập kỷ 80 (thế kỷ XX) tốc độ mất rừng nhiệt đới là 11.4 triệu ha, trong đó khoảng 3/4 là rừng giàu, và 17 đến 20 triệu ha vào cuối thập kỷ 80.
Tốc độ mất rừng trung bình của thế giới là 1%/năm. Riêng ở vùng Đông Nam Á, trong thời gian 1980 đến 1990 thì diện tích rừng giảm đi khá nhanh. Như ở Indonesia diện tích rừng giảm 1.212 nghìn ha, Thái Lan là 515 nghìn ha, Malaysia là 396 nghìn ha, Philippine là 316 ha, Việt Nam là 139 nghìn ha và Lào là 129 nghìn ha. Alice Hughes (2019), tác giả của nghiên cứu, trong tất cả những mối đe dọa đối với khu vực, hai nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái đa dạng sinh học tại 6 Đông Nam Á là săn bắn, buôn bán động vật hoang dã và môi trường sống bị thu hẹp.
Đông Nam Á đã mất đi 14,5% diện tích rừng trong vòng 15 năm qua, và có thể đã mất hơn 50% độ che phủ rừng nguyên sinh. Một số khu vực, bao gồm nhiều diện tích thuộc Indonesia, được dự báo sẽ giảm đến 98% diện tích rừng vào năm 2022. Theo Hughes (2019),chỉ ra nguyên nhân là do núi đá vôi chưa được đưa vào danh sách các khu vực cần được bảo vệ, trong khi phần lớn các loài cư trú trong vùng núi đá vôi không thể di cư sang môi sinh khác, khiến không biết bao nhiêu loài bị tuyệt chủng hàng năm do hoạt động khai thác đá. Tác giả khuyến nghị cần thực hiện thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa để đưa ra các ưu tiên bảo tồn phù hợp, đặc biệt trong bối cảnh môi trường sống suy thoái nhanh chóng như hiện nay.
Thêm vào đó, cần đảm bảo thực thi và giám sát tốt hơn các quy định hiện hành nhằm bảo vệ môi trường sống và ngăn chặn săn bắn các loài bị đe dọa. Cuối cùng, cần nỗ lực hơn nữa để đưa vào áp dụng trong thực tiễn các công nghệ mới giúp giám sát môi trường sống và động vật hoang dã, với độ phân giải ngày càng chất lượng. Tình hình quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam Nghiên cứu về quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam có nhiều tác giả đề cập đến, đặc biệt có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về quản lý tăng cường quản lý nhà nước về công tác quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam, như: Ngày 17/8, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 61-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng. Kết luận khẳng định, sau hơn 6 năm triển khai thực hiện Chỉ thị, nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Cùng với đó, cơ chế, chính sách, pháp luật được tiếp tục hoàn thiện. Công tác quản lý nhà nước và tổ chức bộ máy về lâm nghiệp được quan tâm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý, bảo vệ, phát triển rừng được tăng cường. Công tác quy hoạch, điều tra, đo đạc, xây dựng hồ sơ quản lý và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng được triển khai ở nhiều địa phương. Chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên được thực hiện nghiêm.
Các dự án phát triển kinh tế - xã hội có tác động tiêu cực đến rừng được kiểm soát chặt chẽ hơn. Công tác bảo vệ, ngăn chặn nạn phá rừng, thực thi pháp luật lâm nghiệp có tiến bộ, giảm số vụ và mức độ thiệt hại. 7 Diện tích và chất lượng rừng ngày càng tăng, tỉ lệ che phủ rừng đạt trên 42%. Kinh tế rừng, kinh tế dưới tán rừng, công nghiệp chế biến, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản tăng nhanh.