MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài và lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Tính cấp thiết Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội. Xoá đói, giảm nghèo và mang lại công bằng trong giáo dục là một định hướng chiến lược của Chính phủ Việt Nam.
Để thực hiện chiến lược này, trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam là đảm bảo quyền được hưởng giáo dục cho tất cả mọi người, đảm bảo mọi trẻ em đều được đi học để có kiến thức và kỹ năng cơ sở cần thiết và có thể làm việc có hiệu quả sau khi ra trường. Ở cấp học mầm non, điều này được hiểu là bảo đảm điều kiện cho tất cả trẻ em trong độ tuổi được đến trường. Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và là nước thứ nhất ở Châu Á đã ký Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em vào tháng 2/1991. Trong đó những quyền cơ bản của trẻ em là quyền được chăm sóc, quyền được học tập, quyền được vui chơi.
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, mức độ trẻ em được hưởng thụ GDMN rất chênh lệch giữa vùng thành thị và vùng nông thôn, giữa các tầng lớp xã hội, giữa các vùng KT-XH khác nhau, giữa trẻ bình thường và trẻ chậm phát triển, trẻ có gia đình và trẻ vô gia cư,.Điều đó thể hiện rõ qua một số vấn để sau: 1/ Cơ hội trẻ được đến trường lớp. mầm non để hưởng thụ GDMN có chất lượng; 2/ Cơ hội trẻ được hưởng sự chăm sóc nuôi dưỡng, các điều kiện cơ sở vật chất trường lớp, các điều kiện cho trẻ vui chơi để phát triển; 3/ Kiến thức, kỹ năng, thái độ của những người chăm sóc trẻ (cha mẹ và giáo viên), 4/ Những chính sách của cộng đồng và xã hội đảm bảo các quyền của trẻ em,.Chính sự thiếu công bằng trong GDMN sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không kém gì những hiện tượng thiếu công bằng ở những bậc học khác. Do đó, cùng với sự đổi mới kinh tế và các vấn đề xã hội khác, phát triển các loại hình GDMN, đặc biệt là các loại hình GDMN ngoài công lập nhằm tăng cường phát huy tiêm lực địa phương, huy động sự tham gia của toàn xã hội vào giáo dục là giải pháp quan trọng nhằm góp phần rút ngắn khoảng cách hưởng thụ GDMN giữa trẻ em các vùng với các điều kiện, môi trường sống khác nhau. Xu thế phát triển GDMN trên thế giới hiện nay, đặc biệt là các nước trong khu vực Châu Á là đẩy mạnh xã hội hoá GDMN, là phát triển các trường mầm non 1 ngoài công lập.
Thực tiễn tại Việt Nam cũng cho thấy, các loại hình mầm non NCL đã góp phần đáng kể trong việc giảm ngân sách Nhà nước, phát huy vai trò của các lực lượng xã hội, đặc biệt trong việc huy động các nguồn lực khác nhau để phát triển GDMN. `» Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 được Chính phủ phê duyệt ngày 28/12/2001, đã đề ra những mục tiêu phấn đấu phát triển GDMN trong cả nước đến 2010, phấn đấu thu hút tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đến trường như sau: Tỷ lệ trẻ em dưới 03 tuổi đến nhà trẻ đạt 18%; tỷ lệ trẻ em từ 3 tuổi đến 5 tuổi đến trường, lớp mẫu giáo đạt 67%, trong đó tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đến trường, lớp mẫu giáo đạt 95%. Ngày 20/5/2005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Giáo dục (sửa đổi), xác định rõ hơn hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động giáo dục và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý giáo dục, giữa các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động GD. Luật GD 2005 qui định nhà trường trong hệ thống GD quốc dân được tổ chức theo 3 loại hình: công lập, dân lập, tư thục (Luật GD 1998 qui định 4 loại hình: công lập, bán công, dân lập, tư thục).
Đây là một thay đổi có thể ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp phát triển GDMN, một bậc học đang đi vào ổn định và vừa mới được khởi sắc trong mấy năm gần đây nhờ chủ trương, chính sách của Nhà nước ta, đặc biệt là sau Quyết định 161/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển GDMN. Vì vậy hiện tại các địa phương rất lúng túng trong công tác quản lý chỉ đạo phát triển các cơ sở mam non NCL theo Luật GD 2005. Nhằm góp phần làm cơ sở cho việc đề ra chủ trương, chính sách phát triển GDMN, chuyển đổi và phát triển các loại hình GDMN theo tỉnh thần Luật GD 2005 phù hợp với điều kiện KT-XH của địa phương, góp phần thực hiện Chiến lược phát triển GD 2001-2010, chúng tôi nghiên cứu dé tài “Wghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình trường mầm non ngoài công lập”. Lịch sử vấn đề nghiên cứu: Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu có liên quan đến chủ trương của Nhà nước về phát triển GDMN ngoài công lập.
1) Đề tài “Nghiên cứu mô hình trường lớp mầm non dân lập tư thục có chất lượng”. Mã số: B96-49-39, thực hiện trong 3 năm từ năm 1996-1999, - Qua nghiên cứu thực trạng đề tài đã nêu lên ưu thế của trường mầm non tư thục: Sĩ số trẻ trong 1 lớp ít, giờ giấc giữ trẻ linh hoạt, học phí đóng góp theo thoả thuận, phương thức làm việc của nhà trường mềm dẻo, đáp ứng nhanh chóng những yêu cầu của phụ huynh. - Đề tài cũng đưa ra một số khó khăn, hạn chế của trường mầm non tư thục: Cơ sở vật chất trường nhóm chật hẹp, chủ yếu là xây đựng cải tạo từ nhà ở nên không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của GDMN, ít có sân chơi, khó khăn trong việc tuyển chọn những giáo viên có năng lực vì thu nhập không ổn định,. - Đề tài kiến nghị về chế độ chính sách của nhà nước đối với trường mầm non tư thục: Có chính sách ưu đãi về tín dụng, đất đai, chế độ bảo hiểm XH và bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên đối với GVMN,.
2) Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CS-GD trẻ ở các trường mẫu giáo ngoài công lập” Mã số: B2000-52-46 Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chất lượng CS-GD trẻ ở các trường mẫu giáo ngoài công lập, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CS- GD trẻ ở các trường mẫu giáo NCL. 3) Đề tài nhánh “Xã hội hoá giáo dục mầm non” Mã số: XHHGD-2001(04) (thuộc để tài “Cơ sở lý luận và các giải pháp xã hội hoá sự nghiệp GD giai đoạn 2001-2020”- của Văn phòng Chính phủ), đã thực hiện những mục tiêu nghiên cứu: - Đánh giá thực trạng công tác XHH GDMN và các chính sách khuyến khích XHH GDMN trong giai đoạn hiện nay. - Đưa ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất kiến nghị về các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác XHH GDMN trong giai đoạn tới. 4) Dé tài cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất mô hình trường mầm non ngoài công lập ở khu vực nông thôn” Mã số: B2002- 52- 21 Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về cơ chế quản lý, chính sách đầu tư, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên,.
trong các cơ sở GDMN bán công ở nông thôn đề xuất mô hình trường mầm non bán công ở khu vực nông thôn phù hợp với địa phương. Tóm lại, trong thời gian qua đã có những nghiên cứu qui mô toàn quốc về những chủ trương, chính sách phát triển GDMN nói chung, GDMN ngoài công lập nói riêng. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều được thực hiện trước thời điểm có Quyết định số 161/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/11/2002 về một số chính sich phát triển GDMN, đẩy mạnh phát triển các trường mầm non NCL, đặc biệt là trường mầm non bán công. Luật giáo dục 2005 có một số quy định được sửa đổi, quan trọng nhất là quy định vẻ các loại hình GD (không còn tồn tại loại hình trường mầm non bán công), điểu này dẫn đến những biến động vô cùng lớn đối với sự nghiệp phát triển GDMN trong thời gian tới.
Vì vậy cần thiết phải có một số nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt về tình hình phát triển GDMN ngoài công lập, về tình hình thực tế của các địa phương, những thuận lợi, khó khăn trong việc chuyển đổi các loại hình GDMN theo Luật GD 2005, lộ hình chuyển đổi,.v, để các cấp lãnh đạo có những chỉ đạo kịp thời nhằm tạo thế ổn định và phát triển của bậc học mầm non, phù hợp với yêu cầu mới. Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình GDMN ngoài công lập thực hiện Luật Giáo dục 2005. Phạm vi nghiên cứu: Trong thời gian vừa qua, GDMN đã có bước phát triển nhanh, đặc biệt là các GDMN ngoài công lập bao gồm 3 loại hình: Bán công, dân lập và tư thục. Với việc quy định các loại hình của Luật GD 2005, GDMN ngoài công lập sẽ chỉ còn 2 loại hình: dân lập và tư thục, còn loại hình bán công sẽ không còn tồn tại nữa.
Đây chính là vấn đề bức xúc, nan giải nhất của GDMN, làm sao để quá trình chuyển đổi các loại hình GDMN không tạo ra một sự khủng hoảng ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển GDMN ngoài công lập. Nhằm góp phần giải quyết khó khăn trên, dé tai sẽ không chú trọng nghiên cứu các giải pháp phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các cơ sở mầm non ngoài công lập mà chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng thực hiện chuyển đổi các loại hình GDMN, những khó khăn và thuận lợi ở địa phương. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp chuyển đổi các loại hình GDMN phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, nhằm củng cố và phát triển các loại hình GDMN theo Luật GD 2005. Nội dung nghiên cứu 1) Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài 2) Khảo sát thực trạng phát triển các loại hình GDMN NC(L tại một số tỉnh/TP; 3) Đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình GDMN ngoài công lập.
Phương pháp nghiên cứu 1) Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển GDMN; NC các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài. 2 ) Phương pháp chuyên gia: Tiến hành trong từng giai đoạn của quá trình thực hiện đề tài, đặc biệt trong giai đoạn hoàn thiện cơ sở lí luận của để tài, xây dựng phiếu điều tra, đánh giá kết quả nghiên cứu; để xuất các giải pháp.