Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm của một số nước về phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo; Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam; Chương 3: Đề xuất giải pháp phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam giai đoạn 2020 2030. 18 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong những năm vừa qua, ở trong và ngoài nước đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài về phát triển thị trường, phát triển thị trường sản phẩm nói chung, các nghiên cứu về ngành năng lượng và thương mại sản phẩm năng lượng, các nghiên cứu về vùng TDMNPB liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về thị trường và phát triển thị trường sản phẩm nói chung Bộ Công Thương (2007), Phát triển thị trường trong nước đến năm 2010 và định hướng đến 2020, Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 27/2007/QĐTTg ngày 15/2/2007, đã xây dựng các quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển các loại hình doanh nghiệp, loại hình kết cấu hạ tầng thương mại, các mô hình tổ chức lưu thông hàng hóa và giải pháp phát triển thương mại trong nước cụ thể như: (1) Phát triển đa dạng các loại hình kết cấu hạ tầng thương mại, kết hợp hài hoà giữa thương mại truyền thống với thương mại hiện đại, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của thị trường trên từng địa bàn (khu vực, vùng, miền và cả nước); (2) Củng cố hệ thống phân phối được hình thành trên cơ sở xác lập mối liên kết dọc, có quan hệ gắn kết chặt chẽ, ổn định và ràng buộc trách nhiệm trên từng công đoạn của quá trình lưu thông từ sản xuất, xuất nhập khẩu đến bán buôn và bán lẻ thông qua quan hệ trực tuyến hoặc quan hệ đại lý mua bán; (3) Doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu phải kiểm soát và chịu trách nhiệm (hoặc liên đới chịu trách nhiệm) với toàn bộ hệ thống, từ chi phí, giá cả, nguồn gốc, số lượng, chất lượng và nhãn hiệu hàng hoá đến phương thức và chất lượng; (4)Thiết lập hệ thống phân phối trên cơ sở xây dựng và phát triển hệ thống tổng kho bán buôn, hệ thống trung tâm logistics được bố trí theo khu vực thị trường để tiếp nhận hàng hoá từ các cơ sở sản xuất, nhập khẩu và cung ứng hàng hoá cho mạng lưới bán buôn, bán lẻ (cửa hàng trực thuộc, các đại lý) [1].
Bộ Công thương (2011), Nghiên cứu phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn Việt Nam thời kỳ 20102020 , Đề tài cấp Bộ, đã tập trung nghiên cứu và làm rõ khái niệm về thị trường và bán lẻ hàng tiêu dùng. Trong kinh tế học hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng, thị trường là tổng thể các quan hệ mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với 19 nhau, bất kể ở địa điểm nào, thời gian nào. Khái niệm thị trường hiện đại còn bao hàm cả thị trường thực và thị trường ảo. Tác giả đã đề xuất những giải pháp phát triển thị trường gồm có: (1) Đa dạng hoá loại hình bán lẻ tiêu dùng, (2) Phát triển kênh cung ứng hàng hoá bán lẻ và (3) Các giải pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động lưu thông hàng hoá bản lẻ trên thị trường nông thôn [7].
Phạm Nguyên Minh (2012), Giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, đã phân tích về phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá bao gồm 4 bước: (1) Nghiên cứu thị trường; (2) Lập chiến lược phát triển thị trường; (3) Xây dựng và thực hiện chiến lược marketing xuất khẩu và (4) Kiểm tra đánh giá thực hiện chiến lược phát triển thị trường. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của thị trường xuất khẩu hàng hoá gồm có chỉ tiêu tuyệt đối (gia tăng về số lượng thị trường, về giá trị kim ngạch tại mỗi thị trường và số lượng chủ thể tham gia xuất khẩu hàng hoá) và chỉ tiêu tương đối (tốc độ tăng số lượng thị trường xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu). Theo tác giả, các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển thị trường xuất khẩu gồm nhóm nhân tố trong nước (pháp luật, chính sách của Nhà nước, cơ chế quản lý của chính quyền địa phương, các yếu tố sản xuất và các yếu tố thuộc về doanh nghiệp) và nhóm nhân tố ngoài nước (thị hiếu tiêu dùng, hàng rào thuế quan và phi thuế quan) [35]. Chu Văn Giáp (2018), Nghiên cứu hành vi tiêu dùng sản phẩm Công nghiệp xanh ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội.
Luận án đã cung cấp thông tin và đề xuất các giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm Công nghiệp xanh và đề xuất chính sách cho các cơ quan quản lý nhà nước để thúc đẩy mua sắm các sản phẩm xanh và cải thiện thái độ của người tiêu dùng thông qua việc quan tâm đến môi trường của khách hàng. Các cơ quan quản lý nhà nước cần chú trọng xây dựng cơ chế thị trường, tổ chức phân phối [29]. Nhóm các công trình nghiên cứu về phát triển của ngành năng lượng và thương mại sản phẩm năng lượng tái tạo nói riêng Nguyên Long (2011), Để phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng, Nghiên cứu đánh giá những tiềm năng tiết kiệm năng lượng của nước ta trong giai đoạn 20062015 sau 10 năm triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia về Tiết kiệm năng lượng, đã chỉ ra một số nguyên nhân đang gây cản trở, khó khăn cho công tác phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của nước ta. Đồng 20 thời, theo tác giả có 2 cách thức để đa dạng hóa sản phẩm thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng: Thông qua con đường chuyển giao công nghệ bằng hợp tác liên doanh; nghiên cứu để chế tạo ra những sản phẩm mới.
Mặc dù vậy, tài liệu chưa nghiên cứu các nội dung cụ thể của sản phẩm tiết kiệm năng lượng và phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của Việt Nam. Nguyễn Đức Cường (2012), Tổng quan về hiện trạng và xu hướng của thị trường năng lượng tái tạo của Việt Nam, Tác giả đã có bài viết nghiên cứu chỉ ra rằng so với nhiều nước trên thế giới, thị trường năng lượng tái tạo Việt Nam còn quá nhỏ bé và chưa phát huy hết tiềm năng hiện có. Để đáp ứng nhu cầu trong khi việc cung ứng năng lượng đang và sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức, đặc biệt là sự cạn kiệt dần nguồn nhiên liệu hóa thạch nội địa, giá dầu biến động theo xu thế tăng và Việt Nam sẽ sự phụ thuộc nhiều hơn vào giá năng lượng thế giới. Chính vì vậy, việc xem xét khai thác nguồn Năng lượng tái tạo trong giai đoạn tới sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường.
Phạm Thị Thanh Mai (2017), Nghiên cứu phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo trong quy hoạch nguồn điện Việt Nam đến năm 2030, Luận án Tiến sĩ, Đại Học Bách Khoa Hà Nội: Công trình nghiên cứu nghiên cứu khá chi tiết việc tính toán xác định cơ cấu nguồn điện từ NLTT trong quy hoạch phát triển nguồn điện Việt Nam giai đoạn 2015 – 2030, nghiên cứu tính toán cụ thể cho 5 nguồn NLTT là Thủy điện nhỏ, Gió, Mặt trời, Sinh khối và Địa nhiệt) với dữ liệu cập nhật về hiện trạng, tiềm năng, và dự báo về công nghệ phát triển, các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật của các nhà máy điện. Luận án tính toán chi tiết mức chi phí mà nền kinh tế phải bỏ ra để đạt được cơ cấu nguồn điện từ NLTT trong các kịch bản và khuyến nghị mức trợ giá tối thiểu cho sản xuất điện từ các nguồn NLTT. Bùi Văn Phú (2017), Phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng của Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại Học Bách Khoa Hà Nội, luận án nghiên cứu, phân tích làm rõ thực trạng phát triển thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng nước ta trong thời gian qua dựa trên các yếu tố cấu thành thị trường là phát triển nguồn cung sản phẩm, phát triển tiêu dùng sản phẩm và phát triển các trung gian thị trường kết nối cung cầu. Luận án đã tiến hành đánh giá chỉ ra những thành công và hạn chế trong việc phát triển các yếu tố cấu thành thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng nước ta thời gian qua.
Chỉ rõ những nguyên nhân hạn chế của các chủ thể là nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc phát triển các yếu tố cấu thành thị 21 trường nói chung và thị trường sản phẩm tiết kiệm năng lượng nói riêng. Đặng Đình Thống (2017), Phát triển thủy điện ở Việt Nam: Tiềm năng và thách thức, Tác giả đã nhận định đánh giá với tiềm năng khá lớn và được quan tâm khai thác từ rất sớm nên thủy điện đã đóng góp một phần rất đáng kể vào sản xuất điện của Việt Nam. Những vấn đề bất cập và kiến nghị một số giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững thủy điện, trong đó có thủy điện nhỏ ở Việt Nam trong thời gian sắp tới. Nguyễn Hoài Nam (2018), Phát triển thị trường điện lực tại Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh: Công trình nghiên cứu đã làm rõ thêm cơ sở lý luận về phát triển thị trường điện tại Việt Nam định hướng tự do hóa và cải thiện cơ chế cạnh tranh.
Luận án đã chỉ ra cần thiết phải giảm sự điều tiết của Nhà nước đối với giá điện để thị trường điện vận hành theo cơ chế thị trường, qua đó khuyến khích đầu tư vào nguồn cung cấp điện năng từ nguồn năng lượng tái tạo. Luận án chỉ ra rằng để phát triển thị trường điện bền vững hơn, cần thực hiện tốt quản lý nhu cầu điện và duy trì mức tăng trưởng phù hợp. Phạm Cảnh Huy (2018), Triển vọng phát triển năng lượng gió, mặt trời tại Việt Nam, Tác giả đã nghiêu cứu đánh giá nhu cầu điện năng.