Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Phát triển và phát triển bền vững 1. Phát triển Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế, phát triển kinh tế là sự biến đổi cả về lượng và chất; nó là sự kết hợp chặt chẽ của vấn đề kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia [9] Lý thuyết tăng trưởng kinh tế cổ điển theo các chuyên gia kinh tế là các học thuyết và mô hình lý luận về tăng trưởng kinh tế, do các nhà kinh tế học cổ điển nêu ra, đại điện của trưởng phái này là Adam Smith và David Ricardo. Smith (1723-1790), ông là nhà kinh tế học người Anh đầu tiên nghiên cứu lý luận tăng trưởng kinh tế một cách tương đối có hệ thống trong tác phẩm “Bàn về sự giàu có của các quốc gia”, ông cho rằng tăng trưởng kinh tế là tăng đầu ra tính theo bình quân đầu người. Ông mô tả các nhân tố tăng trưởng kinh tế thông qua phương trình sản xuất ở dạng như sau: Y = f (L, K, R, T, U) Trong đó: Y: Sản lượng của nền kinh tế L: Sức lao động K: Tiền vốn hay tư bản R: Đất đai T: Tiến bộ kỹ thuật U: Môi trường kinh tế – Xã hội 6 D. Ricardo (1772 - 1823) nhà kinh tế học người Anh.
Trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khoá” (1817) đã đề xuất hàng loạt các lý thuyết kinh tế như: Lý thuyết tiền lương, lợi nhuận và địa tô; lý thuyết về tín dụng và tiền tệ, ông là người thừa kế một số quan điểm kinh tế của A. Học thuyết tăng trưởng kinh tế của Harrod - Domar: Các trường phái Keynes thay thế trường phái cổ điển đã bổ sung thêm những vấn đề lý thuyết kinh tế quan trọng. Mô hình đầu tiên và nổi tiếng hơn cả của họ là mô hình Harrod - Domar hai nhà kinh tế Anh. Lý thuyết này trình bày mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhiên cứu về tư bản.
Lý thuyết cất cánh: Nhà kinh tế học Mỹ Rostow đã đưa ra lý thuyết cất cánh nhằm nhấn mạnh những giai đoạn của tăng trưởng kinh tế. Theo ông tăng trưởng kinh tế đối với một nước phải trải qua 5 giai đoạn sau: - Giai đoạn xã hội truyền thống: đặc trưng của giai đoạn này là năng suất lao động thấp, nông nghiệp giữ vị trí thống trị. - Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Trong thời kỳ này đã xuất hiện các nhân tố tăng trưởng và một số khu vực có tác động thúc đẩy nền kinh tế. - Giai đoạn cất cánh: để đạt tới giai đoạn này cần có ba điều kiện: Tỷ lệ đầu tư tăng lên từ 5-10% phải xây dựng được những ngành công nghiệp có khả năng phát triển nhanh, có hiệu quả và đóng vai trò thúc đẩy, phải xây dựng được bộ máy chính trị xã hội, tạo điều kiện phát huy năng lực của các khu vực hiên đại, tăng cường kinh tế đối ngoại.
- Giai đoạn chín muồi về kinh tế: giai đoạn này xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới, hiện đại. - Giai đoạn quốc gia thịnh vượng, xã hội hoá sản xuất cao. Lý thuyết về “Cái vòng luẩn quẩn” và “Cú huých từ bên ngoài”: do nhà kinh tế học tư sản, trong đó có Paul Samuelson - Nhà kinh tế học Mỹ đưa ra. Theo lý thuyết này, để tăng trưởng kinh tế nói chung phải đảm bảo 4 nhân tố là: nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tư bản và kỹ thuật.
Nhìn chung ở 7 các nước đang phát triển, bốn nhân tố trên là khan hiếm. Việc kết hợp chúng đang gặp trở ngại lớn. Để phát triển phải có “Cú huých từ bên ngoài” nhằm phá vỡ “Cái vòng luẩn quẩn”. Điều này có nghĩa là phải có đầu tư của nước ngoài vào các nước đang phát triển.
Phát triển kinh tế là kết quả gia tăng về số lượng, quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ, sự tiến bộ về chất lượng, cơ cấu kinh tế xã hội. Phát triển là một khái niệm chung song mỗi chủ thể kinh tế, hoạt động kinh tế đều có riêng một tiêu chí phát triển dựa theo khả năng, trình độ và công nghệ của từng chủ thể. Phát triển bền vững Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban môi trường và phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland).
Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội. phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường.
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát 8 triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa,. riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó. * Điều kiện của phát triển bền vững Phát triển bền vững là sự phát triển mang tính chất tổng thể, bao trùm tất cả các vấn đề trong một quốc gia như phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về chính trị, phát triển bền vững về môi trường, phát triển bền vững về y tế, phát triển bền vững về giáo dục đào tạo, phát triển bền vững về văn hóa xã hội, về an ninh quốc phòng về chỉ số phát triển con người.
Theo đó, phát triển kinh tế bền vững phải bao hàm cùng một lúc cả yêu cầu về mức độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế. Điều đó có nghĩa là phải thể hiện ở khả năng duy trì tăng trưởng GDP ở mức cao một cách lâu dài và có hiệu quả. * Nội dung chủ yếu về Phát triển bền vững i) Phát triển bền vững về kinh tế Phát triển kinh tế bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu về kinh tế của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến khả năng đáp ứng những nhu cầu về kinh tế của thế hệ tương lai, có nghĩa là phải tránh cho nền kinh tế bị suy thoái, vỡ nợ, mất khả năng thanh toán trong tương lai; Là sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế được thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế ổn định lâu dài và sự thay đổi về chất theo hướng tiến bộ của nền kinh tế, gắn với quá trình tăng năng suất lao động, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế - xã hội. Tăng trưởng kinh tế: Là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.
Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. 9 ii) Phát triển bền vững về xã hội Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Mục tiêu đầu tiên của phát triển bền vững là thỏa mãn các yêu cầu tối thiểu về ăn mặc, vệ sinh, sức khỏe, nhà ở, nước sạch, học hành…Tăng trưởng kinh tế phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động.
Có việc làm thì người lao động mới có quyền, có thu nhập và các điều kiện tự hoàn thiện nhân cách của chính mình. Người lao động nếu không có việc làm, bị thất nghiệp sẽ không có thu nhập, dễ nảy sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn, gây hệ lụy cho xã hội. Tăng trưởng kinh tế phải hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống người dân: Thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ bình quân tăng. iii) Phát triển bền vững về môi trường Muốn phát triển bền vững thì trong phát triển phải tính đến yếu tố môi trường.
Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội có quan hệ khăng khít, chặt chẽ, tác động lẫn nhau trong thế cân đối thống nhất: Môi trường tự nhiên (bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên) cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội. Sự giàu nghèo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên: Rất nhiều quốc gia phát triển chỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên để xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại,… Có thể nói, tài nguyên nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung (trong đó có cả tài nguyên) có vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững về kinh tế – xã hội (KT - XH) ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng phát triển sản xuất chè theo hướng bền vững 1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên Tài nguyên là yếu tố tạo cơ sở cho việc phát triển các ngành, cho quá trình tích luỹ vốn, đồng thời cũng là đối tượng sản xuất nông nghiệp.
Cây trồng, vật nuôi có quá trình sinh trưởng và phát triển theo quy luật tự nhiên, trải rộng trên một phạm vi không gian rộng lớn. Cho nên chúng gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên [12] 10 1. Nhóm nhân tố kinh tế kỹ thuật Sự phát triển kinh tế luôn gắn liền với những thành tựu khoa học kỹ thuật.