Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về lập địa, chọn loài và chọn giống cây trồng Lập địa và loài cây trồng phải phù hợp với nhau theo nguyên tắc “Đất nào cây ấy” thì mới mong đạt được năng suất và chất lượng rừng cao nhất.
Vấn đề chọn lập địa để trồng rừng hoặc chọn loài cây trồng phù hợp với từng loại lập đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm, điển hình như một số công trình nghiên cứu sau đây: Kết quả nghiên cứu của Pandey D. (1983) [38] về loài Bạch đàn Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã cho thấy nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5 - 10 m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30 m3/ha/năm. Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở Swiziland, Evan (1992) [33] đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài Thông này có quan hệ khá chặt với các yếu tố địa hình và đất (R=0,81). Từ các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về điều kiện lập địa đã cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết và đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng.
Cây trồng muốn sinh trưởng, sản lượng, năng suất trồng rừng cao phải có giống tốt. Giống là điều kiện đầu tiên quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng. Để đánh giá được khả năng sinh trưởng và năng suất cây trồng ngoài nhân tố điều kiện lập địa thì giống cây trồng còn có ý nghĩa quyết định tới năng suất rừng trồng. Trên thế giới đã có rất nhiều nước đi sâu nghiên cứu cải thiện tính di truyền của các giống cây rừng, điển hình là các nước: Công Gô, Brazin, Swaziland, Malayxia, Zimbabwe… 5 Hiện tại có nhiều giống cây rừng có năng suất cao đã được nghiên cứu và đưa ra sản xuất nhằm nâng cao năng suất cũng như rút ngắn chu kỳ kinh doanh phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người trồng rừng.
Có nhiều giống của loài cây rừng đã được nghiên cứu và phát triển như Keo, Bạch đàn, Thông, Mỡ,…. Tại Swiziland cũng đã chọn được giống Thông Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt năng suất 19 m3/ha/năm (Pandey, 1983) [38]. Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis đạt từ 35 m3 - 40 m3/ha/năm, giống Bạch đàn E.urophylla đạt trung bình tới 55 m3/ha/năm, có nơi lên tới 70 m3/ha/năm (Campinhos và Ikemori, 1988) [32]. Tại công ty Aracrug ở Brazil đã sử dụng giống Bạch đàn lai giữa E.
urophylla, trồng rừng bằng cây hom và áp dụng các biện pháp KTLS tích cực đã đưa năng suất trồng rừng Bạch đàn lên tới 70 m3/ha/năm. Đối với cây Keo lai tự nhiên giữa Acacia mangium và Acacia auriculiformis được phát hiện đầu tiên vào những năm 1970 ở Sabah, Malaysia. Những cây lai này ở Ulu Kukut đã thấy có kích thước lớn hơn, dạng cành và thân tròn đều hơn các cây Keo tai tượng đứng gần. Ngoài ra, còn có dấu hiệu cho thấy tỷ trọng gỗ và một số tính chất của cây lai cao hơn hẳn cây mẹ Keo tai tượng (Rufelds, 1987) [40].
Theo Pinso và Nasi (1991) [39] Keo lai giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm được phát hiện lần đầu tiên ở Sook Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia. Cây Keo lai đã được Pedley (Bảo tàng thực vật bang Queensland) khẳng định vào năm 1977. Từ đó, người ta thường thấy Keo lai xuất hiện trong các khu rừng trồng Keo tai tượng thu hạt từ Ulu Kurut của Malaysia nơi có lai giống tự nhiên giữa hai loài. Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp Kỹ thuật Lâm sinh tác động Biện pháp KTLS tác động có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và năng suất cây rừng.
Có rất nhiều biện pháp KTLS tác động được nghiên cứu nhằm cải thiện năng suất cây trồng như: Kỹ thuật trồng, chăm sóc, bón phân, tỉa thưa,… có thể thống kê một số công trình nghiên cứu điển hình sau đây: 1. Ảnh hưởng của xử lý thực bì và làm đất đến sinh trưởng của rừng trồng Theo Nambiar và Brown (1997) [36] thì xử lý thực bì và làm đất có thể cải thiện độ phì vật lý của đất, nhưng cũng có thể làm giảm độ phì hóa học của đất. Tuy 6 nhiên, những nhà khoa học này cho rằng việc sử dụng cơ giới hoá trong xử lý thực bì và làm đất trồng rừng là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm sức sản xuất của đất. Quản lý độ phì đất trong đó có các biện pháp KTLS về xử lý thực bì trước khi trồng nhằm ổn định và cải thiện năng suất rừng trồng.
Hiện nay, trước khi trồng rừng đất có thể được chuẩn bị bằng nhiều phương pháp và phương thức khác nhau tuỳ vào điều kiện cụ thể. Thường sau khi xử lý thực bì, đất được đào hố để trồng cây theo kích thước và mật độ thiết kế. Trong một số điều kiện nhất định, đất được xử lý bằng cách cày toàn diện hoặc lên líp trước khi đào hố. Đã có một vài thí nghiệm nhằm nâng cao sản lượng rừng trồng thông qua việc làm đất.
Ảnh hưởng của bón phân tới sinh trưởng của rừng trồng Nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật bón phân cho cây trồng nhằm nâng cao năng suất rừng trồng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Điển hình là công trình nghiên cứu của Mello (1976) [35], khi nghiên cứu ở Brazil, tác giả đã cho thấy bón phân NPK Bạch đàn sinh trưởng nhanh hơn 50% so với không bón phân. Nghiên cứu về công thức bón phân cho Bạch đàn E. grandis theo công thức 150g NPK /gốc với loại phân bón có tỷ lệ N:P:K = 3:2:1 ở Nam Phi của Schonau (1985) [41] đã đưa ra kết luận có thể nâng cao chiều cao trung bình của rừng trồng lên 2 lần sau năm thứ nhất.
Bón phân Phosphate cho Thông caribe ở Cu Ba, Herrero và cộng sự (1988) [34] đã cho thấy có thể nâng cao sản lượng rừng sau 13 năm trồng từ 56 m3/ha lên 69 m3/ha,… Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy biện pháp bón phân, thời gian bón phân, loại phân bón có ảnh hưởng khá rõ rệt đến năng suất rừng trồng. Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của rừng trồng Mật độ trồng rừng ban đầu là một trong những biện pháp KTLS quan trọng có ảnh hưởng khá rõ đến năng suất rừng trồng. Vấn đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình như: Công trình nghiên cứu của Evans, J. (1992) [33], tác giả đã bố trí 4 công thức thí nghiệm mật độ trồng khác nhau (2.075 và 750 cây/ha) cho Bạch đàn E.deglupta ở Papua New Guinea, số liệu thu được sau 5 năm trồng cho 7 thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng mật độ cao.
Như vậy, mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến năng suất, chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh. Vì thế, cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp. Nghiên cứu về chính sách và thị trường Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhiều đến các hình thức khuyến khích trồng rừng. Điển hình có những nghiên cứu của Narong Mahanop (2004) [37] ở Thailand.
Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông Nam Á chính là: - Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất; - Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ rừng trồng; - Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân. Quan điểm chung về phát triển trồng RSX có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức kinh doanh sản xuất rừng trồng. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, diện tích rừng trồng cũng tăng lên rất nhanh từ 1 triệu ha năm 1990 lên 3.294ha năm 2013, nằm trong tốp 10 các nước (đứng thứ 9 thế giới và thứ 3 Đông Nam Á) có diện tích rừng trồng lớn nhất thế giới. Đây là kết quả của sự đổi mới trong chính sách phát triển lâm nghiệp đã thúc đẩy trồng rừng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở tận dụng tối đa lợi thế so sánh cấp quốc gia.
Những chính sách quan trọng có thể kể đến là: Luật đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng; các Nghị định 01/CP; 02/CP; 163/CP về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp. Bên cạnh đó là các chính sách đầu tư, tín dụng như luật Khuyến khích đầu tư trong nước như: Nghị định 43/1999/NĐ-CP, Nghị định 50/1999/NĐ-CP,… 8 Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020. Nhiều công trình nghiên cứu nhằm hỗ trợ và nâng cao hiệu quả cho công tác phát triển rừng trồng nói chung và rừng trồng sản xuất nói riêng. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: chọn loài cây trồng, chọn lập địa, giống, các biện pháp kỹ thuật và cơ chế chính sách.
Kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả trồng rừng ở nước ta. Nghiên cứu về chọn loài cây trồng Chọn loài cây trồng là một vấn đề hết sức quan trọng trong công tác trồng rừng. Nó có tính quyết định đến năng suất, chất lượng và sự thành bại của rừng trồng trong tương lai.