CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN Lực 1.1 Nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm về nhân lực Theo Tạp chí Tổ chức Nhà nước, thuộc Bộ Nội Vụ, “Nhân lực” là “tiềm năng, khả năng của con người trong một tổ chức hay xã hội tức là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thực hiện những công việc, nhiệm vụ nào đó cho cá nhân, tổ chức hoặc công ty.” Cũng theo Tạp chí này, nhân lực bao gồm cả trí lực và thể lực. Trí lực hay còn gọi là chất xám, là khả năng suy nghĩ, học hỏi, tiếp thu kiến thức, suy luận, phán đoán. Còn thể lực thì chỉ về thể trạng, tình trạng sức khỏe, khả năng chống chọi vói bệnh tật. Có đủ cả hai yếu tố này thì một người sẽ sống và làm việc rất hiệu quả.2 Khải niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực hay còn được biết đến với tên gọi khác là nguồn lực con người.
Khái niệm này xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ trước khi có sự thay đổi căn bản về phưong thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Theo Liên hiệp quốc (2014), nguồn nhân lực được định nghĩa là kiến thức, năng lực và trình độ lành nghề của của con người có liên quan nến sự phát triển xã hội. Với cách nhìn này, khái niệm nguồn nhân lực được xem xét dựa trên các phưong diện chất lượng, sức mạnh và vai trò của con người đối vói sự phát triển của xã hội. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (2000), nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người đang trong độ tuổi lao động và đồng thời có khả năng tham gia lao động.
Khái niệm nguồn nhân lực được tiếp cận theo hai nghĩa: 5 Xét theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực về con người cho sự phát triển. Vì vậy, nguồn nhân lực là toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Xét theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực chỉ khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh té xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động và nguồn lực này có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội. Nghĩa là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động đáp ứng đầy đủ các yếu tố về thể lực, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp để huy động vào quá trình lao động.
Theo Bộ Luật Lao động Việt Nam (2019), khái niệm nguồn nhân lực trong xã hội bao gồm cả những người trong độ tuổi lao động và cả những người đã ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động. Một khái niệm khác được sử dụng gần đây liên quan đến con người trong tổ chức là nguồn vốn con người (human capital), dùng để chỉ "tất cả nhân viên của tồ chức, được mô tả dưới góc độ đào tạo, kinh nghiệm, sự phán đoán, trí thông minh, các mối quan hệ và sự hiểu biết của họ" (Bùi Văn Danh, Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực, 2008) Như vậy, nói tóm lại ta có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách của con người đáp ứng sự đòi hỏi của một co cấu kinh tế - xã hội nhất định.3 Những mặt cơ bản của nguồn nhân lực trong tổ chức Nguồn nhân lực trong một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân độc lập, có vai trò riêng biệt liên kết với nhau nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của tổ chức. Nguồn nhân lực trong tổ chức bao gồm các mặt cơ bản như sau: - Số lượng nguồn nhân lực trong tổ chức: Là số lượng thành viên trong một tổ chức, chỉ số này thể hiện quy mô của một tổ chức. Tổ chức có số lượng nhân viên càng đông đảo, quy mô của tổ chức đó càng lớn mạnh và ngược lại, số lượng nhân viên càng ít thì quy mô của tổ chức đó càng nhỏ.
6 - Cơ cấu nguồn nhân lực trong tổ chức: Xét theo khả năng và mức độ tham gia hoạt động kinh tế, nguồn nhân lực gồm: Nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động: Là tất cả, toàn thể những người nằm trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động, được quy định bởi pháp luật lao động của một quốc gia. Dân số trong độ tuổi lao động gồm hai nhóm là dân số trong độ tuổi lao động đang tham gia hoạt động kinh tế và dân số nằm ở độ tuổi lao động không hoạt động kinh tế vì các lý do khác nhau. Dân số trong độ tuổi lao động là thành phần chính tạo ra nguồn nhân lực và được sử dụng để tính tỷ lệ phụ thuộc của dân số. Ở các nước đang phát triển, nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động trong dân số có tỷ lệ cao, thường là trên 50%.
Ở Việt Nam, độ tuổi lao động đủ 15 tuổi trở lên đến 55 tuổi (đối vói nữ giới) và 60 tuổi (đối với nam giới). Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế: Là bộ phận năng động nhất của nguồn nhân lực, bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang làm việc, những người trên độ tuổi lao động đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc. Bộ phận nguồn nhân lực dự trữ: Là một phần của nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động nhưng chưa tham gia hoạt động kinh tế và khi cần có thể huy động được. Bộ phận này bao gồm: Những người làm công việc nội trọ, người trong độ tuổi lao động nhưng đang đi học, những người không có nhu cầu làm việc hay lực lượng vũ trang.
Chất lượng nguồn nhân lực: Theo Nguyễn Thúy Quỳnh (2021), “Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người. Chất lượng nguồn nhân lực cao có tác động làm tăng năng suất lao động (NSLĐ)C Theo Vũ Thị Mai (2015), “chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được hiểu Mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động đối với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tể chức thực hiện thắng lợi mục tiêu và thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động Để đon giản hóa, có thể được hiểu một cách đon giản là năng 7 lực của nhân lực trong cuộc sống và trong công việc. Chất lượng nguồn nhân lực thường được đánh giá dựa trên các tiêu chí cơ bản là: Tạp chí Lý luận chính trị (2014, số 2) đưa ra định nghĩa trí lực “bao gồm tất cả các yếu tố thuộc về trí tuệ, năng lực, khả năng sử dụng chuyên môn trong công việc, tinh thần và và phẩm chất của các thành viên trong tổ chức. Trí lực được hình thành và phát triển thông qua con đường giáo dục, đào tạo và thực tế làm việc của người lao động.” Thể lực: Bao gồm các yếu tố thể chất, sức khỏe, sức chịu đựng áp lực và xử lý căng thẳng trong công việc của nhân viên.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế. Đạo đức: Bao gồm các yếu tố thể hiện tư tưởng, lối sống, thái độ, tình cảm, và phong cách đối xử giữa các thành viên trong tổ chức, với mọi người trong xã hội.4 Vai trò của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực giữ vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt động của tổ chức, và được xác định là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt động nào trong phát triển kinh té - xã hội, nguồn nhân lực luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn vong của mỗi quốc gia. Nguồn nhân lực giúp đảm bảo nguồn lực sáng tạo: Chỉ có con người mới có thể sáng tạo ra các loại hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ và con người cũng là yếu tố duy nhất có thể kiểm tra được quá trình sản xuất và kinh doanh. Tài nguyên con người là yếu tố đặc biệt quan trọng, khi nguồn nhân lực làm việc hiệu quả khi tổ chức mới có thể phát triển và đạt được mục tiêu.
Hội thảo Văn hóa 2022 với chủ đề “Thể chế, chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hóa” cũng đã đề cao vai trò của con người trong việc giữ gìn và phát triển văn hóa- điều rất cần sự sáng tạo, đổi mới, và ở đó, nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng và bền vững để tiếp tục đưa sự nghiệp phát triển văn hóa về phía trước. 8 Nguồn nhân ỉực là nguồn lực có tính chiến lược: Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Đảng ta đã đề ra quan điểm: "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững" , thể hiện vai trò chiến lược của nguồn nhân lực trong công cuộc phát triển và xây dựng đất nước. Xã hội đang chuyển mình sang nền kinh tế tri thức nên những yếu tố liên quan đến tri thức con người ngày càng được chú trọng và đề cao. Đặc biệt, hiện nay xã hội đang đánh giá cao nguồn nhân lực có tính năng động, linh hoạt và sáng tạo với việc vận dụng trí óc vào công việc.
Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội ngày càng phát triển thì nguồn nhân lực cũng là một nguồn lực vô tận, nếu biết cách khai thác nguồn lực này một cách phù hợp sẽ tạo ra nhiều của cải, vật chất cũng như thỏa mãn các nhu cầu của con người.Mác đã khẳng định: "sựphát triển của xã hội không phải do bất kỳ một lực lượng siêu nhiên nào, mà chỉnh con người đã sáng tạo nên lịch sử của mình - lịch sử xã hội loài người Khẳng định này cho thấy thực tế nguồn nhân lực so với các nguồn lực khác, nguồn nhân so với các nguồn nhân lực khác có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý. cũng như nguồn nhân lực có vai trò là nền tảng để củng cố và phát triển để tối ưu hóa các nguồn nhân lực khác, nhằm tạo nên lợi ích.