mở đầu cho sự chuyển mình của nền nônh nghiệp Việt Nam và từ đó có thực tế để kiểm định lại mô hình HTX nông nghiệp kém hiệu quả trước đây và xem xét lại vai trò của nền kinh tế hộ. trong những năm này cơ chế khoán theo chỉ thị 100 được thực hiện công khai hợp pháp trên thực tế sau nhiều năm được xem là "khoán chui". Kể từ đó kinh tế hộ được từng bước tạo lập trên cơ sở giải phóng các nguồn lực ra khỏi các cơ chế quản lý trói buộc - Giải phóng sức lao động ra khỏi cơ chế quản lý tập trung bằng cơ chế khoán 100. - Bằng Nghị quyết 10 của BCT (ngày 5/4/1988) bước đầu giải phóng các mối quan hệ kinh tế tập trung, cứng nhắc, thiết lập quan hệ lưu thông hàng hóa tự đo cho hộ nông dân.
Bước đầu giải phóng những ràng buộc trong việc sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân. - Bằng Nghị quyết Trung ương lần thứ V (6/1993) xác lập quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân, kinh tế hộ được phục hồi và trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trưởng. Từ chế độ khoán theo chỉ thị 100 cho phép xã viên đầu tư và hưởng phần vượt khoán đến cơ chế tự chủ sản xuất - kinh doanh có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập lại vai trò của hộ nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam nói riêng và ở thành phố Đà Nẵng nói chung. Đó cũng là giai đoạn phản ánh các chuyển biến vẻ chất trong đởi sống các hộ nông dân.
Trước hết, là sự thay đổi trong quan hệ sở hữu của các hộ nông dân đối với các yếu tố sản xuất. Nông hộ thực sự được giao quyền sở hữu các yếu tố sẳn xuất như trâu, bò. Trước đây, HTX kiểu cũ đã xóa bỏ hay nói đúng hơn là hòa tan hình thức sở hữu nhỏ của gia đình vào trong sở hữu tập thể, coi nhẹ các lợi ích kinh tế cũng như các ưu thế về lao động sẵn xuất của các hộ nông dân. Sự xung đột về lợi ích dẫn đến sự sa sút nên sẵn xuất tập thể, các hộ nông dân xa lánh rời bỏ 16 các đội sản xuất của HTX, đây là một hiện thực phi lý đã tổn tại trong nông thôn mấy chục năm qua.
Với các quyển sở hữu tài sản và 5 quyền sử dụng đất đai lâu dài, người nông dân được quyết định các phương hướng sẵn xuất theo các điều kiện của gia đình. Những năng lực sản xuất của | gia đình được khơi dậy và được huy động tối đa vào quá trình sản xuất. Một khi sức lao động được giải phóng khỏi các cơ chế ràng buộc của cơ chế quản lý HTX kiểu cũ, hộ nông đân được tự do di chuyển tìm kiếm việc làm, được tham gia các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau, trong và ngoài địa phương. Trước đây ta đã không chú ý đến một đặc điểm quan trọng của kinh tế nông dân sản xuất nhỏ là sự linh hoạt trong bố trí lao động gia đình : bố trí theo mùa vụ, theo công việc, theo lứa tuổi và theo giới tính, kết hợp nhiều thế hệ lao động theo tính chất công việc.
Do đặc điểm truyền nghề theo tập quán gia đình (thường gọi là gia truyền), theo déng ho. nên lao động của gia đình có thể hoạt động trên nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế nông thôn. Họ "tự bóc lột lao động" của gia đình để tổn tại và phát triển một cách linh hoạt. Các HTX trong cơ chế tập trung bao cấp trước đây, đã không chấp nhận quyển sở hữu nhỏ, sự bố trí lao động và các yếu tố sản xuất của các hộ.
Ngoài ra, còn phải kể đến một thực tế là chính sách quản lý của thời bao cấp đã triệt tiêu khả năng của các hộ tiếp cận thị trưởng, dủ đó là thị trường hảng hóa nhỏ của nền kinh tế bao cấp. Các hộ tổn tại trong các điều kiện ngặt nghèo về tìm kiếm việc làm, thiếu đầu tư kinh tế. Dựa trên sự quản lý tập trung bao cấp của HTX, các hộ nông dân không có quyền tự chủ tìm kiếm các con đưởng phát triển dựa trên các điều kiện đặc thù kinh tế xã hội và tự nhiên của địa bàn mà họ đang canh tác. Vai trò tự quyết định "đầu ra", "đầu vào" cho quá trình sản xuất dựa trên bố trí lao động gia đình của các chủ hộ không được chú ý, phát huy tác dụng, do đó hạn chế vai trò tự chủ của hộ trong kinh tế gia đình.
Một khi quan hệ sở hữu của các hộ nông dân đối với các yếu tố sản xuất được xác lập, nguồn lực lao động của hộ được giải phóng khỏi cơ chế ràng buộc, môi trưởng nông nghiệp được cải thiện, nền kinh tế mở cửa, đô thị hóa và công nghiệp hóa phát triển tác động vào nông thôn đã tạo điều kiện cho hộ nông dân chuyển dần nền nông nghiệp độc canh cây lúa, tự cung, tự cấp, sang nén san xuất hàng hóa theo hướng chuyên canh kết hợp với đa dang sinh hoc. 17 Các tiềm năng nông, lâm, ngư trên các vùng kinh tế sinh thái được khai thác có hiệu quả. Sau hơn 10 năm đổi mới, năng lực sản xuất của kinh tế hộ tăng lên đáng kể, rõ nét nhất là công cụ sản xuất, nhiều khâu nặng nhọc đã được cơ giới hóa, nhất là khâu làm đất, tuốt lúa. Do phát triển sản xuất, đặc biệt lực lượng sẵn xuất nông thôn, nên nhìn chung mức sống và điểu kiện sống của dân cư nông thôn đang được cải thiện rõ rệt.
Trong những năm gần đây, vấn đề lương thực của dân cư nông thôn về căn bản được giải quyết. Cả nước trên 12 triệu hộ nông dân, chiếm 85% tổng số hộ toàn quốc. Hộ nông dân đã sản xuất ra 98% sản lượng thóc, 99% sản lượng rau quả, 95% sẵn lượng cây công nghiệp ngắn ngày, 97% sản lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đối với nền nông nghiệp, hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản, nếu được tổ chức tạo môi trưởng thuận lợi, kinh tế hộ nông dân sẽ phát huy vai trỏ kinh tế tự chủ phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa.
Thành phố Đà Nẵng có 40.000 hộ nông dân nói chung, trong đó có 29.235 hộ sản xuất nông nghiệp, chiếm tỷ trọng về sân số và lao động không lớn trong tổng số (lao động nông nghiệp 59.847 người, chiếm 29,1% lao động toàn thành phố và 43,13% dân số nông thôn) nhưng vùng nông nghiệp ven đô có vai trò vị trí quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kinh tế hộ nông dân thành phố Đà Nẵng có truyền thống lâu đời. Về sản xuất nông nghiệp chống chọi thích nghi với điều kiện sống khắc nghiệt, có ý chí cách mạng, ngoan cường, ngảy nay là những người chủ trong sản xuất nông nghiệp. Ngay từ 1977, những năm đầu hợp tác hóa nông nghiệp, 92% số hộ nông dân đã đi vào làm ăn tập thể hóa với 80% diện tích canh tác.
Trải qua thăng trầm của kinh tế tập thể, kinh tế hộ nông dân vẫn khẳng định vai trò là đơn vị sản xuất cơ bản của nền nông nghiệp thành phố. Kinh tế hộ nông đân thực sự chủ động sản xuất kinh doanh khi được Nhà nước trao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân. Tính tích cực, tự chủ của kinh tế hộ trong phát triển kinh tế nông nghiệp đã dần được phát huy để phù hợp cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực trạng phát triển của kinh tế hộ nông dân Đà Nẵng : 18 2.
Những đặc trưng chủ yếu về cúc yếu tổ sẵn xuất của kinh tế hộ nông dân Da Nang : - _ Tính chất sản xuất phổ biến tự cấp, tự túc. - _ Quy mô sản xuất nhỏ bé. - _ Trình độ lao động thấp. - Cac diéu kiện sản xuất còn thô sơ lạc hậu.
Thực trạng phát triển của kinh tế hộ nông dân : a. Về sử dụng ruộng đất : Quy mô đất đai nhỏ bé lại bị xé lẻ, ở các khu vực ngoại thành hầu hết ruộng đất bị chia nhỏ và manh mún. Thêm vảo đó, quỹ đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm dẫn do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, các nhu cầu xây dựng chuyên dụng khác như thủy lợi, giao thông, nhà ở cho dân cư, làm cho quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm. Chỉ tính riêng ở huyện Hỏa Vang, một huyện có diện tích canh tác chiếm 60% diện tích canh tác của thành phố, nhưng bình quân đất trên mỗi hộ chỉ đạt 0,68 ha/hộ.
Mặc khác, sự phát triển của sản xuất hàng hóa, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và sử dụng cơ giới hóa v. lại đòi hỏi sự tích tụ và tập trung ruộng đất. Qua điều tra, phỏng vấn 300 hộ nông dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, cho thấy đa số các hộ nông dân thực hiện xây dựng các mô hình trang trại, vùng rau (chuyên canh) xanh, sạch ở Hỏa Khánh, Bắc Mỹ An đều có nhu cầu tập trung ruộng đất. Tuy nhiên, hiện nay trên một số vùng có xuất hiện xu hướng tích tụ ruộng đất nhưng chưa phổ biến.
Qua điều tra 300 hộ nông dân ở khu vực nông thôn Da Nẵng, thì 19,1% hộ có diện tích canh tác trên I ha. Nguyên nhân chủ yếu của quá trình tích tụ đất là do : một số hộ có vốn, có kinh nghiệm làm ăn đã khai hoang và nhận quỹ đất dự trữ của địa phương hoặc nhận chuyển nhượng đất của các hộ khác dưới các hình thức. Với diện tích đất nông nghiệp hiện có 12.900 ha, bình quan chung 1 người dân Đà Nẵng là 199 m’, tính cho hộ nhân khẩu nông nghiệp 1a 3.100 m?/ hộ ; 730m) cho 1 nhân khẩu, 45,8% số hộ có diện tích ruộng đất dưới 2000 m? 32,20% số hộ tử 2000 đến 5000 mỶ xu hướng giảm đất nông nghiệp do đô thị hóa khoảng 5,5% (gần 700 ha) đến năm 2010. Khả năng mở rộng đất sản xuất nông nghiệp thành phô rất khó khăn.
19 Qua điểu tra 300 hộ nông dân trên tổng số 29.235 hộ cho thấy : 81,9% hộ nông dân có diện tích đất nông nghiệp thấp (từ 0,5 ha - 1 ha) trong khi quy mô đất nông nghiệp trung bình ở nước ta là 1 - 2 ha / hộ, tình trạng đất canh tác bị chia sẽ manh mún, ảnh hưởng đến mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp của kinh tế hộ.