Tổng quan nghiên cứu

Tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra với tốc độ mạnh mẽ, khiến diện tích đất nông nghiệp giảm từ 2.961,4 ha năm 2014 xuống còn 2.517,7 ha vào năm 2016, tương ứng tỷ lệ đất nông nghiệp co hẹp từ 48,28% xuống 41,05% tổng diện tích tự nhiên 6.133,23 ha. Cùng với đó, số hộ sản xuất nông nghiệp cũng giảm nhanh từ 5.821 hộ xuống còn khoảng 4.298 hộ trong cùng giai đoạn. Bối cảnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế đòi hỏi các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp phải đổi mới toàn diện nhằm thích ứng với Luật Hợp tác xã năm 2012. Mặc dù 100% hợp tác xã trên địa bàn (toàn bộ 29 đơn vị) đã hoàn tất thủ tục chuyển đổi pháp lý, thực tế vận hành cho thấy hiệu quả kinh tế mang lại cho thành viên chưa đạt kỳ vọng, hoạt động còn mang tính hình thức, năng lực quản trị hạn chế và khả năng huy động vốn còn rất thấp.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Chinh với đề tài "Giải pháp phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi theo Luật Hợp tác xã năm 2012 trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh" hướng tới mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng phát triển về số lượng, chất lượng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bền vững. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 29 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn 7 phường và 5 xã của thị xã Từ Sơn, sử dụng dữ liệu thứ cấp từ năm 2014 đến 2016 và khảo sát sơ cấp giai đoạn 2016–2017. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt trong việc thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp đô thị, phấn đấu nâng cao tỷ lệ dịch vụ cung ứng đạt trên 80% nhu cầu thành viên và cải thiện thu nhập cho hơn 25.000 nhân khẩu nông nghiệp địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của luận văn được xây dựng dựa trên sự tích hợp của lý thuyết phát triển kinh tế nông thôn của Raaman Weitz và quan điểm phát triển toàn diện của Mai Thanh Cúc, kết hợp với các nguyên tắc tổ chức kinh tế tập thể theo định nghĩa của Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Mô hình nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm cốt lõi: Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp kiểu mới, Dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, Phát triển bền vững quy mô hợp tác xã, và Cơ chế phân phối lợi ích theo mức độ sử dụng dịch vụ.

Theo quy định tại Điều 7 Luật Hợp tác xã năm 2012, mô hình hợp tác xã kiểu mới xác định mục tiêu tối thượng là tối đa hóa lợi ích cho thành viên với tỷ lệ cung ứng dịch vụ nội bộ bắt buộc tối thiểu 70% và giới hạn tỷ lệ góp vốn tối đa của mỗi thành viên không quá 20% vốn điều lệ. Khung phân tích này cũng kế thừa bài học thực tiễn từ mạng lưới hơn 1.200 hợp tác xã đa năng tại Nhật Bản và hệ thống Liên đoàn Hợp tác xã Raiffeisen tại Cộng hòa Liên bang Đức với doanh thu nông nghiệp đạt hơn 38 tỷ euro, chứng minh vai trò cầu nối của hợp tác xã trong tổ chức dịch vụ đầu vào và bao tiêu đầu ra cho kinh tế hộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận đa nguồn, kết hợp dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014–2016 từ Phòng Kinh tế, Chi cục Thống kê thị xã Từ Sơn và dữ liệu sơ cấp thu thập từ tháng 3/2016 đến tháng 8/2017. Tác giả tiến hành điều tra khảo sát toàn bộ 29 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp đã chuyển đổi và áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đối với 150 hộ thành viên đại diện cho 7 phường và 5 xã của thị xã. Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng đảm bảo tính đại diện cao cho các vùng chuyên canh lúa, rau màu và các địa bàn có mức độ đô thị hóa khác nhau.

Dữ liệu sau thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh chuỗi thời gian 3 năm và phương pháp phân tổ thống kê. Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích này là nhằm phản ánh chính xác các chỉ tiêu tài chính, biến động nguồn vốn, mức độ tiếp cận 10 chính sách hỗ trợ theo Nghị định 193/2013/NĐ-CP và đánh giá khách quan chỉ số hài lòng của thành viên đối với các khâu dịch vụ thủy nông, làm đất và bảo vệ thực vật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về mặt tổ chức, 100% hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tại Từ Sơn (29/29 đơn vị) đã hoàn thành đăng ký lại theo Luật Hợp tác xã năm 2012, tuy nhiên cơ cấu dịch vụ còn rất đơn điệu khi có tới 85% hợp tác xã chỉ cung ứng các dịch vụ đầu vào truyền thống như thủy nông, làm đất và phòng trừ sâu bệnh, trong khi tỷ lệ hợp tác xã thực hiện dịch vụ bao tiêu đầu ra chỉ đạt dưới 10%.

Thứ hai, về tiềm lực tài chính và quy mô vốn, tổng nguồn vốn hoạt động bình quân của các hợp tác xã còn khiêm tốn, nguồn vốn tự có chỉ chiếm khoảng 30% tổng tài sản, trong khi tỷ lệ tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng theo Thông tư số 60/2007/TT-BTC đạt dưới 15% do thiếu tài sản bảo đảm hợp pháp.

Thứ ba, về năng lực quản trị, khảo sát chỉ ra hơn 60% cán bộ quản lý hợp tác xã có độ tuổi trên 50, tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học hoặc cao đẳng chuyên ngành kinh tế nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 18,5%, dẫn đến sự lúng túng trong xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi.

Thứ tư, về hiệu quả kinh tế, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân của các hợp tác xã giai đoạn 2014–2016 chỉ duy trì ở mức 4,5% đến 6,2%, phần lớn lợi nhuận tích lũy không đáng kể, làm suy giảm động lực gắn kết của hơn 80% hộ thành viên tham gia góp vốn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế trên xuất phát từ việc chuyển đổi bộ máy tại nhiều địa phương mới dừng lại ở việc thay đổi tên gọi và quy chế trên văn bản, chưa thực sự đổi mới phương thức quản trị theo nguyên tắc tự chủ của thị trường. Khi đối chiếu với kinh nghiệm thành công của các hợp tác xã nông nghiệp tại Hàn Quốc với 100% nông dân tham gia và mạng lưới tiêu thụ đạt hơn 37.000 tỷ won mỗi năm, có thể thấy các hợp tác xã tại Từ Sơn đang bỏ trống mắt xích liên kết chuỗi giá trị và thương mại nông sản.

Để minh họa trực quan sự suy giảm quy mô nông nghiệp, dữ liệu diện tích đất canh tác từ 2.961,4 ha giảm còn 2.517,7 ha có thể được trình bày thông qua biểu đồ hình cột kết hợp đường xu hướng thể hiện tốc độ giảm bình quân 7,79%/năm. Đồng thời, một bảng phân tổ thống kê đa chiều so sánh tỷ lệ hoàn thành các khâu dịch vụ với tỷ lệ hài lòng của 150 hộ khảo sát sẽ làm rõ sự chênh lệch lớn: dịch vụ thủy nông đạt mức đáp ứng 92% nhưng dịch vụ cung ứng giống và tiêu thụ chỉ đạt mức thỏa mãn dưới 35%. Điều này cho thấy tính cấp thiết phải tái cơ cấu danh mục dịch vụ hướng vào các cây trồng giá trị cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Để phát triển bền vững các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2018–2025, luận văn đề xuất hệ thống 5 giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện và đẩy mạnh thực thi chính sách hỗ trợ: Ủy ban nhân dân thị xã Từ Sơn cùng Phòng Kinh tế cần khẩn trương thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trụ sở cho 100% hợp tác xã trước năm 2020, tạo điều kiện thế chấp vay vốn tín dụng ưu đãi với mức hỗ trợ lãi suất giảm 40% theo quy định tại Nghị định 193/2013/NĐ-CP.

Thứ hai, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý: Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng chuyên sâu cho 100% chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc hợp tác xã về kỹ năng lập kế hoạch kinh doanh và quản trị tài chính định kỳ hàng năm; phấn đấu đến năm 2022 có ít nhất 45% cán bộ quản lý đạt trình độ cao đẳng, đại học.

Thứ ba, cơ cấu lại nguồn vốn và mở rộng dịch vụ: Vận động thành viên tăng mức vốn góp bình quân lên tối thiểu 2 triệu đồng/hộ, đồng thời các hợp tác xã chủ động mở rộng ít nhất 2 khâu dịch vụ mới là cung ứng vật tư nông nghiệp an toàn và sơ chế tiêu thụ nông sản, phấn đấu nâng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đạt từ 8% đến 10% vào năm 2023.

Thứ tư, đầu tư hiện đại hóa cơ sở hạ tầng nông nghiệp: Ủy ban nhân dân các xã, phường phối hợp với các hợp tác xã triển khai kiên cố hóa 80% hệ thống kênh mương nội đồng và nâng cấp 100% trạm bơm điện phục vụ tưới tiêu chủ động cho 2.500 ha đất canh tác còn lại trong giai đoạn 2018–2021.

Thứ năm, tăng cường liên kết chuỗi giá trị: Thiết lập hợp đồng liên kết bao tiêu sản phẩm nông sản sạch giữa 29 hợp tác xã với các siêu thị, khu công nghiệp Tiên Sơn và chuỗi bếp ăn tập thể tại địa phương, đảm bảo tiêu thụ ổn định ít nhất 50% sản lượng nông sản hàng hóa của thành viên từ năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân thị xã Từ Sơn và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh: Sử dụng nguồn số liệu thực chứng từ 29 hợp tác xã và các phân tích biến động đất đai 6.133,23 ha để làm căn cứ hoạch định chính sách phát triển kinh tế tập thể và quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ven đô giai đoạn 2020–2025.

Thứ hai, ban giám đốc và hội đồng quản trị các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp: Vận dụng trực tiếp các biểu mẫu đánh giá năng lực quản trị, khung phân bổ chi phí dịch vụ và phương án mở rộng kinh doanh nhằm nâng cao tỷ suất sinh lời vượt mức 6% hiện tại.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp: Tham khảo phương pháp chọn mẫu phân tầng 150 hộ điều tra, khung lý thuyết tích hợp và hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế tập thể sau chuyển đổi luật.

Thứ tư, các doanh nghiệp chế biến và chuỗi bán lẻ nông sản: Tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh, tiếp cận dữ liệu vùng trồng 2.352,8 ha cây hàng năm tại Từ Sơn để xây dựng hợp đồng liên kết chuỗi giá trị cung ứng đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra an toàn.

Câu hỏi thường gặp

Luật Hợp tác xã năm 2012 mang lại điểm khác biệt cốt lõi nào so với Luật năm 2003 đối với thị xã Từ Sơn? Luật năm 2012 xác định rõ hợp tác xã hoạt động không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận mà phục vụ tối đa lợi ích thành viên, khống chế vốn góp tối đa 20% và yêu cầu tối thiểu 70% dịch vụ cung ứng cho nội bộ. Điều này giúp 29 hợp tác xã tại Từ Sơn tái lập bản chất liên kết tương trợ thực chất.

Tại sao 100% hợp tác xã tại Từ Sơn đã chuyển đổi nhưng hiệu quả kinh tế vẫn chưa cao? Thực tế điều tra cho thấy hơn 85% hợp tác xã chỉ hoạt động ở các khâu dịch vụ công ích truyền thống như tưới tiêu, làm đất với tỷ suất sinh lời dưới 6,2%. Đội ngũ quản lý có trên 60% cán bộ lớn tuổi và thiếu vốn mở rộng kinh doanh sang khâu bảo quản, bao tiêu sản phẩm.

Khó khăn lớn nhất trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các hợp tác xã nông nghiệp tại Từ Sơn là gì? Trở ngại lớn nhất là thiếu tài sản thế chấp do hơn 80% hợp tác xã chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trụ sở. Do đó, dù có Thông tư số 60/2007/TT-BTC hỗ trợ lãi suất ưu đãi, tỷ lệ tiếp cận vốn vay ngân hàng của các đơn vị vẫn đạt dưới 15%.

Tác động của đô thị hóa đến sản xuất nông nghiệp tại Từ Sơn diễn ra như thế nào? Từ năm 2014 đến 2016, đất nông nghiệp tại thị xã giảm từ 2.961,4 ha xuống 2.517,7 ha để nhường chỗ cho các khu công nghiệp, làng nghề và đô thị. Sự sụt giảm 443,7 ha đất canh tác buộc các hợp tác xã phải chuyển hướng sang dịch vụ nông nghiệp chất lượng cao.

Giải pháp nào mang tính đột phá để nâng cao thu nhập cho thành viên hợp tác xã? Giải pháp then chốt là xây dựng liên kết chuỗi giá trị nông sản an toàn với các khu công nghiệp và siêu thị lân cận, phấn đấu bao tiêu trên 50% sản lượng lúa giống và nông sản hàng hóa, giúp tăng doanh thu bình quân của hợp tác xã thêm từ 15% đến 20% mỗi năm.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012.
  • Công trình đánh giá xác thực hiện trạng chuyển đổi của 29 hợp tác xã tại thị xã Từ Sơn trong bối cảnh đất nông nghiệp giảm còn 2.517,7 ha năm 2016.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các điểm nghẽn về năng lực quản lý khi có tới 60% cán bộ lớn tuổi và tỷ lệ vay vốn tín dụng đạt dưới 15%.
  • Đề xuất lộ trình 5 nhóm giải pháp đồng bộ giai đoạn 2018–2025 nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động kinh tế tập thể.
  • Định hướng phát triển chuỗi liên kết giá trị và hiện đại hóa dịch vụ là con đường tất yếu để bảo đảm sinh kế cho hơn 25.000 nhân khẩu nông nghiệp.

Trong bước tiếp theo từ năm 2018 đến năm 2022, chính quyền địa phương và các đơn vị quản lý cần khẩn trương triển khai cấp quyền sử dụng đất và chuẩn hóa đào tạo nhân lực. Độc giả quan tâm và các nhà quản lý hãy liên hệ tác giả hoặc Học viện Nông nghiệp Việt Nam để tiếp cận toàn văn công trình và ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn địa phương.