Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan về giáo dục và giáo dục tiểu học 1. Giáo dục và giáo dục tiểu học các nước trên thế giới 1. Tình hình giáo dục các nước Trước chiến tranh thế giới thứ 2, các nước công nghiệp phát triển, giáo dục sơ cấp được thực hiện rộng rãi, người học không phải tốn kinh phí đào tạo, khuynh hướng giáo dục thường tách biệt nam, nữ.
Hệ thống giáo dục công cộng được tiến hành theo hai truyền thống: Giáo dục- đào tạo nhân tài, giáo dục cho quảng đại quần chúng nhân dân. Theo truyền thống đầu tiên, giáo dục có nhiệm vụ đào tạo ra những con người có học vấn cao, xuất thân từ các tầng lớp được ưu đãi trong xã hội, hình thành ở họ khả năng lí giải và tài hùng biện, phương pháp toán học, khoa học và những năng lực khác, được gọi là kiểu tư duy cao. Còn hệ thống giáo dục cho quảng đại quần chúng nhân dân chỉ nhằm cung cấp cho người học những năng lực tối thiểu, tập trung vào việc hình thành những kĩ năng đọc, viết, nói, nghe tính toán, giữ gìn vệ sinh, làm nhiệm vụ của người công dân. Những trường học này coi trọng việc hình thành khả năng tái hiện và ghi nhớ cho trẻ, ít chú trọng đến việc phát triển tư duy sáng tạo độc lập.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã khẳng định "Mọi người đều có quyền về học tập". Lúc này các nước trên thế giới đã có những cố gắng nhằm đảm bảo quyền học tập cho mọi người, nhưng thực tế giáo dục các nước vẫn còn nhiều tồn tại. Theo đánh giá tại diễn đàn giáo dục thế giới họp tại Đa-ca, Xê-nê-gan tháng 4/2000 đã nhận định:[8] "Sự đánh giá giáo dục cho mọi người năm 2000 vẫn còn hơn 113 triệu trẻ em chưa được đến trường tiểu học, 880 triệu người lớn mù chữ. Sự phân biệt giới vẫn lan tràn trong các hệ thống giáo dục, chất lượng học tập và sự lĩnh hội các giá trị nhân 6 văn cùng các kĩ năng đã không đáp ứng đầy đủ những mong muốn về nhu cầu cá nhân và xã hội".
Đồng thời thế giới đang đứng trước những vấn đề gay gắt. Đó là sự đình đốn và suy thoái về kinh tế, dân số tăng nhanh, sự bất bình đẳng về kinh tế ngày càng tăng giữa các nước và trong từng nước, chiến tranh, sự chiếm đóng, xung đột dân sự, tội ác nghiêm trọng, cái chết của hàng triệu trẻ em lẽ ra có thể phòng ngừa được và sự suy thoái ngày càng rộng của môi trường. Tất cả những vấn đề này đã kiềm hãm những nỗ lực nhằm đáp ứng các nhu cầu học tập cơ bản. Ngày nay, thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI đầy triển vọng, có sự tiến triển về hợp tác giữa các quốc gia, các quyền cơ bản và những khả năng của phụ nữ đã được cải thiện, văn hóa khoa học đạt những thành tựu mới phục vụ đắc lực cho con người, xu thế toàn cầu hóa đang mở ra.
Trước những đổi thay của thế giới, giáo dục với tư cách là yếu tố quyết định cho sự phát triển xã hội cần phải đáp ứng những xu thế đó. Qua nghiên cứu, giáo dục các nước trên thế giới đang phát triển dựa trên bốn trụ cột chính đó là: Học để biết - Học để làm - Học để làm người - Học để chung sống. Với 4 trụ cột nêu trên, đòi hỏi con người trong thế giới hiện đại cần nhận thức được, việc học suốt đời gắn liền với xã hội học tập mà ở đó mọi thứ đều có khả năng tạo ra cơ hội học tập và làm giàu tiềm năng của mọi người. Việc học liên tục đảm bảo cho sự tiếp thu kiến thức mới trong suốt cuộc đời: Học ở trường, học ở ngoài nhà trường, học ở nơi làm việc và trong cuộc sống xã hội.
Nhà Giáo dục Nhật Bản Makiguchi trong tác phẩm của mình - Soka Kyoikugaku [22] (Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo) đã thể hiện ý tưởng: "Học không phải là chuẩn bị để sống, đúng hơn người ta học trong khi sống, và sống trong khi học. Học tập và đời sống không những song hành với nhau mà còn giao thoa vào nhau, trao đổi thông tin cho nhau, người ta học bằng cách sống và sống bằng cách học suốt cả đời người". 7 Trong bối cảnh chung của thế giới hiện đại, các quốc gia dân tộc đã và đang cần có sự lựa chọn chiến lược kinh tế xã hội mang tính sống còn bằng mô hình phát triển độc đáo của mình. Tính chất độc đáo trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia càng được tăng lên trong quá trình chuyển biến của thế giới trong mối liên hệ của các quốc gia và sự khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trong đời sống cộng đồng thế giới bằng con đường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục.
Về quan điểm đầu tư cho giáo dục, nhiều nước trên thế giới luôn chủ trương coi giáo dục là nhân tố hàng đầu trong việc thực hiện chiến lược kinh tế xã hội. Giáo dục đóng vai trò trụ cột trong việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhân lực tiên tiến đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh nền công nghiệp của đất nước, điển hình như một số quốc gia dưới đây: Ở Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình phát biểu: “Phải tìm mọi cách để giải quyết tốt vấn đề giáo dục, cho dù ở các mặt khác phải nhẫn nại một chút, thậm chí hy sinh một chút về tốc độ", "Kế hoạch lớn trăm năm phải lấy giáo dục làm gốc" và "Giáo dục phải phục vụ xây dựng Chủ nghĩa Xã hội", "Xây dựng Chủ nghĩa Xã hội phải dựa vào giáo dục"[l 1]. Năm 1985, trong dự án phát triển giáo dục tương lai của Trung Quốc đã nêu ra 7 quan điểm về cải cách giáo dục nhấn mạnh: Đầu tư kinh phí cho giáo dục phải được coi là chính sách quốc gia hàng đầu. Sau khi dự án này được công bố các tỉnh và thành phố đều đặt trọng điểm công tác vào việc tăng cường và phát triển giáo dục cơ sở, vận dụng nhiều biện pháp khêu gợi tính tích cực của toàn xã hội để huy động nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục.
Nhật Bản đã nhiều lần cải cách giáo dục theo hướng hiện đại hóa và nhân văn được xếp vào những nước hàng đầu về chất lượng và hiệu quả giáo dục. Nước Nhật sớm nhận ra vai trò giáo dục, coi giáo dục là nhân tố quyết định phục hưng đất nước. Cùng với những giải pháp cải cách xã hội, Nhật Bản đã 8 bằng giáo dục và thông qua giáo dục thực hiện hai mục tiêu: Phát triển khoa học kĩ thuật và công nghệ để nâng cao năng suất lao động, nâng cao thu nhập quốc dân, mức sống của xã hội. Đồng thời bằng giáo dục làm thay đổi, thiết lập một quan hệ xã hội tốt đẹp.
Nhờ tập trung đầu tư cho giáo dục, hệ thống giáo dục ở Nhật Bản đã phát triển cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu học tập không ngừng của quần chúng, cơ cấu hệ thống giáo dục buộc thế hệ trẻ phải học tập không ngừng thì mới đáp ứng được những đòi hỏi của sản xuất xã hội. Tri thức học tập trong trường gắn liền với kiến thức cần có của thực tiễn xã hội và hoạt động xã hội làm cho giáo dục ngày càng gắn liền với cuộc sống. Giáo dục ở Nhật Bản coi trọng tính thực tế và đã cố gắng tìm các giải pháp tạo ra sự thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội đặc biệt gắn liền với sản xuất xã hội. Hàn Quốc: năm 1985, trong chiến lược giáo dục đã khẳng định phải nâng cao hơn nữa mức đầu tư cho giáo dục, đảm bảo cho chiến lược phát triển trí tuệ, đào tạo nhân tài có hiệu quả.
Singapore định hướng đất nước phát triển thành một trung tâm công nghệ cao với một nền giáo dục kết hợp những tinh thần phương Đông (Khổng giáo) và các giá trị tiến bộ của văn hóa công nghệ trong đời sống của một xã hội hiện đại. Ngay những nước chậm phát triển như Philippin đã thức tĩnh với chiến lược phát triển hướng ngoại và đa dạng, đẩy mạnh xuất khẩu nhân lực lao động ra thị trường nhân lực thế giới. Thích ứng với chiến lược phát triển này là việc triển khai chương trình giáo dục cho mọi người giai đoạn 1995-2000, nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực có khả năng hòa nhập nhanh. Ở Pháp, trong công bố dự thảo kế hoạch tương lai của nền giáo dục đã ghi rõ: Nước Pháp chỉ có thể chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI, tồn tại được trong cuộc 9 cạnh tranh kinh tế và văn hóa của thế giới với một điều kiện là làm tăng giá trị trí tuệ văn hóa, đầu tư vào việc đào tạo thế hệ trẻ.
Trước những biến đổi của nhận thức và thực tiễn phát triển của thế giới, Hoa Kỳ đã xác định giáo dục hướng vào việc khai thác tiềm năng con người không chỉ quan tâm tới khai thác tài nguyên trí tuệ mà còn đặc biệt chú ý tới giáo dục rèn luyện thể chất, tính năng động, hoạt động hòa nhập của cá nhân với cộng đồng xã hội. Quan tâm tới phát triển tư duy sáng tạo thể hiện ở khả năng tính toán và ra quyết định hợp lí. Hoa Kỳ cũng đang thực thi một chiến lược giáo dục mới nhằm khắc phục những yếu kém của mình, nâng cao trình độ học vấn, mở rộng cửa các trường đại học, đào tạo đội ngũ giáo viên tốt nhất, coi giáo dục là vấn đề an ninh quốc gia tối quan trọng. Rõ ràng trước những cơ hội và thách thức của lịch sử, mỗi quốc gia dân tộc đều phải lựa chọn và định hình một chiến lược phát triển của mình một cách thực tiễn và thích ứng với xu thế chung của thế giới.
Chiến lược phát triển quốc gia một mặt đặt ra những yêu cầu, tạo điều kiện phát triển giáo dục nói chung và mặt khác chính quá trình phát triển giáo dục đã tạo điều kiện và cơ hội thành công cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Tính chất quốc tế, quốc gia dân tộc trở thành đặc trưng đậm nét của mô hình phát triển giáo dục ở các nước khác nhau. Giáo dục tiểu học các nước Cho đến những năm cuối thế kỉ 20, mức phấn đấu để phổ cập giáo dục ở hầu hết các nước vẫn là phổ cập giáo dục tiểu học, quan niệm về bậc tiểu học của nhiều nước, đặc biệt là quan niệm về trình độ học vấn cơ bản của từng khu vực có những nét tương đồng.