Tổng quan nghiên cứu

Thị trường thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam trong giai đoạn 2006–2016 đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc với số lượng thiết bị chấp nhận thanh toán thẻ (POS) tăng từ khoảng 10.000 máy lên 270.605 máy vào cuối năm 2016, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 24%/năm. Doanh số thanh toán qua POS duy trì mức tăng trưởng trung bình 29%/năm, kéo theo sản lượng giao dịch tăng từ 24,3 triệu lượt vào năm 2013 lên 96,9 triệu lượt vào năm 2016. Mặc dù hạ tầng kỹ thuật phát triển nhanh chóng, thanh toán qua POS tại Việt Nam vẫn bộc lộ khoảng cách rất lớn so với tiềm năng thực tế. Số lượng giao dịch qua POS chỉ chiếm khoảng 14% so với tổng lượng giao dịch tại ATM và POS, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ trên 90% tại các quốc gia phát triển.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự mất cân đối nghiêm trọng trong cấu trúc thị trường: người tiêu dùng vẫn duy trì thói quen rút tiền mặt tại ATM thay vì quẹt thẻ thanh toán, đồng thời giá trị giao dịch POS lại bị chi phối tới 78% bởi thẻ quốc tế dù thẻ nội địa chiếm tới 89% lượng thẻ phát hành. Luận văn xác định mục tiêu làm rõ thực trạng vận hành của thị trường thanh toán POS, đánh giá vai trò của Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy giao dịch POS tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thị trường thẻ Việt Nam giai đoạn 2013–2016, gắn với mục tiêu của Quyết định số 2545/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2016–2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hiện thực hóa các chỉ tiêu chiến lược: giảm tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán xuống dưới 10%, mở rộng mạng lưới đạt 300.000 thiết bị POS và nâng quy mô xử lý lên 200 triệu giao dịch/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) của Davis và lý thuyết lan tỏa đổi mới (Diffusion of Innovations - DOI) của Rogers để giải thích hành vi đón nhận dịch vụ thanh toán thẻ của người tiêu dùng và đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT). Bên cạnh đó, lý thuyết thị trường hai phía (Two-sided Market Theory) trong kinh tế học thanh toán được sử dụng để phân tích tương tác lợi ích giữa tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ, người mua và người bán.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi trong nghiên cứu bao gồm:

  • Thiết bị điểm bán hàng (Point of Sale - POS) và thiết bị chấp nhận thanh toán di động (mPOS): Phần cứng và ứng dụng phần mềm cho phép đọc thông tin thẻ, xử lý dữ liệu và xác thực thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ.
  • Phí chiết khấu đơn vị chấp nhận thẻ (Merchant Discount Rate - MDR): Tỷ lệ phần trăm phí giao dịch mà ĐVCNT phải trả cho ngân hàng thanh toán trên mỗi đơn hàng thực hiện qua POS.
  • Giao dịch nội mạng (On-us) và liên mạng (Off-us): Giao dịch xử lý trực tiếp giữa các đơn vị nội bộ cùng một ngân hàng hoặc giao dịch liên ngân hàng phải chuyển tiếp qua cổng chuyển mạch tập trung.
  • Tổ chức chuyển mạch thẻ (NAPAS/ICSO): Định chế trung gian tài chính thực hiện nhiệm vụ xác thực, định tuyến và quyết toán giao dịch thẻ giữa các ngân hàng thành viên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hội Thẻ Ngân hàng Việt Nam (VBCA) và hệ thống báo cáo kỹ thuật của NAPAS trong giai đoạn 2006–2016, tập trung phân tích sâu chuỗi dữ liệu 2013–2016. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ 40 ngân hàng thương mại thành viên trong mạng lưới NAPAS, áp dụng phương pháp chọn mẫu có trọng số thị phần để khảo sát chuyên sâu nhóm 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn (Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank) chiếm tới 81% tổng thị phần POS toàn quốc.

Phương pháp phân tích dữ liệu được lựa chọn gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian, phân tích cơ cấu tỷ trọng và phân tích cân đối chi phí - lợi ích. Việc lựa chọn phương pháp này giúp định lượng chính xác tốc độ mở rộng mạng lưới, đo lường sự dịch chuyển dòng tiền giữa thẻ nội địa và thẻ quốc tế, đồng thời bóc tách các điểm nghẽn về cơ chế phí MDR vốn làm suy giảm biên lợi nhuận của các ngân hàng thanh toán. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục đến khi hoàn thiện công trình vào năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng số lượng thiết bị POS rất cao nhưng mật độ bao phủ còn hạn chế. Số lượng máy POS tăng trưởng bình quân 24%/năm, đạt 270.605 máy vào cuối năm 2016. Tuy nhiên, mật độ bình quân tại Việt Nam mới đạt 2,5 máy POS/1.000 dân, thấp hơn nhiều so với Thái Lan (5 máy/1.000 dân) và Malaysia (8 máy/1.000 dân). Thị trường có tính tập trung cao độ khi nhóm 4 ngân hàng lớn chiếm tới 81% thị phần máy POS (Vietcombank 32%, Vietinbank 30%, BIDV 13%, Agribank 6%).

Thứ hai, tồn tại sự nghịch lý giữa quy mô thẻ phát hành và sản lượng quẹt thẻ thực tế. Đến cuối năm 2016, toàn thị trường có hơn 104 triệu thẻ thanh toán (tăng gấp 20 lần so với năm 2006), trong đó thẻ ghi nợ nội địa chiếm áp đảo 88%–89%. Tuy vậy, tổng số giao dịch thanh toán qua POS năm 2016 chỉ đạt 96,9 triệu lượt, chiếm vỏn vẹn 14% tổng giao dịch thẻ, trong khi giao dịch rút tiền mặt tại ATM chiếm tới 86% với 717,2 triệu lượt.

Thứ ba, cơ cấu doanh số thanh toán phân hóa sâu sắc giữa thẻ nội địa và thẻ quốc tế. Mặc dù thẻ quốc tế chỉ chiếm khoảng 11% tổng lượng thẻ phát hành, giá trị giao dịch POS của thẻ quốc tế lại chiếm tới 78% tổng doanh số toàn thị trường năm 2016. Doanh số bình quân trên mỗi máy POS từ thẻ quốc tế đạt 550 triệu đồng/năm (khoảng 46 triệu đồng/tháng), cao gấp 3,5 lần doanh số từ thẻ nội địa (157 triệu đồng/năm, tương đương 13 triệu đồng/tháng).

Thứ tư, cơ chế phí chiết khấu thương quyền (MDR) bất hợp lý làm xói mòn động lực kinh doanh của ngân hàng. Cuộc đua cạnh tranh thị phần đã đẩy phí MDR thẻ nội địa giảm từ 1% xuống chỉ còn 0,1% - 0,5%, không đủ bù đắp chi phí lắp đặt và bảo trì. Đối với thẻ quốc tế, mức phí MDR thu từ ĐVCNT dao động từ 1,4% đến 2,2%, trong khi chi phí thực tế mà ngân hàng thanh toán phải chi trả cho các tổ chức thẻ quốc tế lên tới 1,9%, dẫn đến việc ngân hàng chấp nhận thanh toán chịu lỗ khi vận hành mạng lưới.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua các biểu đồ phân tích xu hướng. Biểu đồ đường so sánh giai đoạn 2013–2016 thể hiện rõ nét sự chênh lệch lớn giữa sản lượng rút tiền ATM (tăng từ 526,6 triệu lên 717,2 triệu giao dịch) và sản lượng thanh toán POS (từ 24,3 triệu lên 96,9 triệu giao dịch). Đồng thời, biểu đồ cột chồng cơ cấu giá trị giao dịch chứng minh sự áp đảo tuyệt đối của thẻ quốc tế (78%) trước thẻ nội địa (22%).

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này xuất phát từ thói quen chuộng tiền mặt, tâm lý e ngại minh bạch doanh thu chịu thuế của các đơn vị bán lẻ và chi phí đầu tư thiết bị POS truyền thống còn cao (khoảng 5 triệu đồng/máy có dây). So với các thị trường phát triển nơi tỷ lệ quẹt thẻ qua POS vượt 90%, Việt Nam có khoảng cách lớn nhưng đồng thời sở hữu tiềm năng bứt phá mạnh mẽ. Sự xuất hiện của các công nghệ mới như mPOS (tiết kiệm chi phí đầu tư 4–6 lần), mã QR Code (TPBank QuickPay, SHB QPay, QR Pay của Big 4) và thanh toán không tiếp xúc qua điện thoại di động (Samsung Pay sử dụng công nghệ MST và NFC) đang mở ra hướng đi đột phá, giúp khắc phục triệt để các rào cản chi phí phần cứng truyền thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy giao dịch thanh toán qua POS tại Việt Nam, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị trọng tâm:

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần hoàn thiện hành lang pháp lý và thiết lập biểu phí sàn MDR. Cơ quan quản lý cần ban hành thông tư quy định mức phí sàn MDR thống nhất (khuyến nghị tối thiểu 0,5% đối với thẻ nội địa và 1,8% đối với thẻ quốc tế) trong vòng 6–12 tháng tới nhằm ngăn chặn tình trạng cạnh tranh phá giá, bảo đảm biên lợi nhuận hợp lý cho các ngân hàng phát triển mạng lưới ĐVCNT.

Thứ hai, Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) phải nâng cấp hạ tầng chuyển mạch liên thông đa phương thức. NAPAS cần chuẩn hóa quy chuẩn kỹ thuật cho POS, mPOS và QR Code, hoàn thành việc liên thông hệ thống bù trừ điện tử với 100% ngân hàng thương mại thành viên trước năm 2020, rút ngắn thời gian xử lý giao dịch liên ngân hàng xuống dưới 2 giây.

Thứ ba, các ngân hàng thương mại cần chuyển đổi mô hình phát triển ĐVCNT và tối ưu chi phí thiết bị. Ngân hàng nên đẩy mạnh hợp tác với các doanh nghiệp fintech để triển khai mPOS với chi phí thấp hơn 4–6 lần so với POS truyền thống, kết hợp thuê ngoài (outsourcing) dịch vụ bảo trì kỹ thuật nhằm mở rộng độ phủ thêm 50.000 điểm chấp nhận thanh toán mỗi năm.

Thứ tư, các bộ, ngành liên quan cần ban hành chính sách ưu đãi tài chính và đẩy mạnh truyền thông. Bộ Tài chính cần áp dụng chính sách giảm 1%–2% thuế giá trị gia tăng cho các hóa đơn thanh toán qua POS, kết hợp quy định bắt buộc lắp đặt thiết bị chấp nhận thanh toán tại 100% đơn vị hành chính công, bệnh viện, trường học và siêu thị nhằm đạt mục tiêu 300.000 POS và 200 triệu giao dịch/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, Cơ quan quản lý nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Luận văn cung cấp cơ sở lý luận và số liệu toàn diện về cấu trúc thị trường thẻ, làm căn cứ hoạch định chính sách quản lý biểu phí MDR và hoàn thiện Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

Thứ hai, Ban lãnh đạo và Khối trung tâm thẻ tại các Ngân hàng thương mại. Tài liệu cung cấp bức tranh thực tế về hiệu quả sinh lời của mạng lưới ĐVCNT, giúp ngân hàng xây dựng chiến lược định giá dịch vụ, lựa chọn công nghệ mPOS và nâng cao hiệu quả quản trị chi phí đầu tư máy móc.

Thứ ba, Các công ty Fintech và Tổ chức trung gian thanh toán. Các đơn vị phát triển giải pháp thanh toán điện tử như NAPAS, mPoS.vn có thể sử dụng các phân tích về xu hướng công nghệ NFC, MST và QR Code để tối ưu hóa thiết bị đầu cuối và mở rộng mạng lưới liên kết bán lẻ.

Thứ tư, Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị với khung phân tích hệ thống, chuỗi số liệu 11 năm (2006–2016) và phương pháp đánh giá thực chứng về kinh tế học thanh toán thẻ.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao thẻ nội địa chiếm tới 89% tổng lượng thẻ nhưng doanh số qua POS chỉ chiếm 22%?

Hiện tượng này do thói quen của người dân sử dụng thẻ ghi nợ nội địa chủ yếu để rút tiền mặt tại ATM (đạt 717,2 triệu lượt năm 2016, gấp hơn 7 lần giao dịch POS). Ngoài ra, các chương trình ưu đãi, tích điểm giảm giá khi quẹt thẻ tại nhà hàng, khách sạn phần lớn hướng vào thẻ tín dụng quốc tế thay vì thẻ nội địa.

Cuộc đua giảm phí chiết khấu thương quyền (MDR) gây ra hệ lụy gì cho thị trường thẻ?

Việc hạ phí MDR xuống 0,1% - 0,5% cho thẻ nội địa và 1,4% - 2,2% cho thẻ quốc tế khiến ngân hàng thu không đủ bù đắp chi phí vận hành bình quân 1,9%. Điều này làm các ngân hàng suy giảm lợi nhuận, hạn chế tái đầu tư bảo trì thiết bị và không mặn mà mở rộng ĐVCNT tại các khu vực ngoại thành.

Công nghệ mPOS có những ưu điểm vượt trội nào so với thiết bị POS truyền thống?

Thiết bị mPOS có chi phí đầu tư rẻ hơn từ 4 đến 6 lần so với mức 5 triệu đồng của máy POS truyền thống, kích thước nhỏ gọn kết nối linh hoạt qua điện thoại thông minh. Thiết bị này tối ưu cho các mô hình kinh doanh có tính cơ động cao như giao hàng thu tiền tận nơi (COD), quán cà phê và các hộ kinh doanh cá thể.

Mục tiêu của Đề án 2545/QĐ-TTg đối với thị trường thanh toán POS là gì?

Quyết định số 2545/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến cuối năm 2020 đưa tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán xuống dưới mức 10%. Toàn thị trường phải lắp đặt hoàn chỉnh 300.000 thiết bị POS với khối lượng giao dịch xử lý đạt khoảng 200 triệu lượt mỗi năm.

Vai trò của NAPAS trong việc phát triển mạng lưới thanh toán POS là gì?

NAPAS giữ vị trí hạ tầng thanh toán bán lẻ quốc gia với 49% vốn điều lệ thuộc Ngân hàng Nhà nước, vận hành hệ thống chuyển mạch kết nối hơn 17.000 ATM và 270.000 POS của 40 ngân hàng thành viên. NAPAS đảm bảo xử lý thông suốt các giao dịch liên mạng off-us và tiên phong chuẩn hóa các công nghệ thanh toán mới.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa quá trình phát triển của mạng lưới POS từ 10.000 máy năm 2006 lên 270.605 máy năm 2016, đồng thời chỉ ra mật độ 2,5 máy/1.000 dân còn thấp so với các nước trong khu vực.
  • Công trình làm rõ nghịch lý cấu trúc khi thẻ quốc tế chỉ chiếm 11% số lượng phát hành nhưng tạo ra 78% doanh số POS, trong khi thẻ nội địa chiếm 89% số lượng lại chủ yếu dùng rút tiền ATM.
  • Luận văn phân tích tác động tiêu cực của cuộc đua giảm phí MDR dưới mức chi phí hòa vốn 1,9%, khẳng định tính cấp thiết của việc ban hành khung pháp lý về sàn phí dịch vụ.
  • Đóng góp cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa chính sách của Ngân hàng Nhà nước, hạ tầng NAPAS, mô hình ĐVCNT của ngân hàng và công nghệ thanh toán hiện đại (mPOS, QR Code, Contactless).
  • Lộ trình tiếp theo cần tập trung số hóa mạng lưới bán lẻ nhằm cán mốc 300.000 máy POS và 200 triệu lượt giao dịch/năm. Các cơ quan quản lý và tổ chức tín dụng cần triển khai quyết liệt các giải pháp đề xuất để xây dựng hệ sinh thái thanh toán không tiền mặt an toàn, hiện đại và bền vững tại Việt Nam.